skip to main |
skip to sidebar

Ăn cà chua, ăn bông cải xanh có thể ngừa ung thư tuyến tiền liệt
Ăn cà chua, ăn bông cải xanh có thể ngừa ung thư tuyến tiền liệt
Thursday, January 18, 2007
HealthDay News - Bông cải xanh (broccoli) và cà chua - hai loại thực vật được coi có khả năng chống bệnh ung thư - sẽ có công hiệu cao hơn để chống bệnh ung thư tuyến tiền liệt nếu ăn cả hai thứ này cùng một lúc trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày, thay vì chỉ ăn một thứ, theo một cuộc nghiên cứu mới. Các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học University of Illinois đã dùng một chế độ dinh dưỡng trong đó có 10 phần trăm chất bột xay ra từ bông cải xanh và 10 phần trăm chất bột cà chua, để nuôi một nhóm chuột đã bị cấy những tế bào của bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Trong khi đó bốn nhóm chuột khác chỉ được cho ăn riêng rẽ bột cà chua, hoặc bột bông cải xanh, hoặc được tiêu thụ một liều lượng của chất lycopene (là chất màu đỏ trong cà chua được coi là có tác dụng chống ung thư), hoặc được tiêu thụ chất finasteride (một dược chất thường được bác sĩ kê đơn cho những người đàn ông có tuyến tiền liệt nở lớn). Một nhóm chuột khác đã bị thiến. Sau 22 tuần lễ, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng chế độ dinh dưỡng phối hợp giữa cà chua và bông cải xanh là thức ăn hữu hiệu nhất để làm giảm u bướu ung thu tuyến tiền liệt. Trong các nhóm chuột khác, chỉ có nhóm bị thiến có khả năng tương tự như nhóm này. “Khi cà chua và bông cải xanh được ăn chung với nhau, chúng tôi nhận thấy có sự gia tăng hiệu ứng. Chúng tôi nghĩ rằng nguyên do là vì trong mỗi thứ thực phẩm chứa đựng những hợp chất có tác dụng sinh học khác nhau để chống bệnh ung thư,” Tiến Sĩ John W. Erdman, giáo sư về thực phẩm và dinh dưỡng tại trường đại học University of Illinois và đồng tác giả của cuộc nghiên cứu, nói trong một bản tin. “Những người đàn ông lớn tuổi bị mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt có mức phát triển chậm muốn muốn chờ đợi để nhận xét, thay vì trị liệu ngay tức thời bằng hóa chất và bằng phóng xạ, hãy nên cứu xét một cách nghiêm chỉnh để thay đổi chế độ dinh dưỡng của họ để ăn thêm nhiều cà chua và bông cải xanh,” bà Kirstie Canene-Adams, đồng tác giả của cuộc nghiên cứu, nói thêm trong bản tin. “Ðể đạt được những hiệu ứng đó, giới đàn ông hãy nên tiêu thụ mỗi ngày khoảng nửa pound bông cải xanh sống cùng với khoảng một pound cà chua tươi. Tôi nghĩ rằng đây là điều mà giới đàn ông dễ thực hành,” bà Canene-Adams nói thêm. Cuộc khảo cứu này đã được xuất bản trong số đề ngày 15 Tháng Giêng 2007 của đặc san nghiên cứu ung thư Cancer Research. (n.m.) http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=54458&z=14
Sướng thật: Bộ Trưởng Y Tế Pháp muốn công nhân xứ này được… ngủ trưa trong giờ làm việc
Sướng thật: Bộ Trưởng Y Tế Pháp muốn công nhân xứ này được… ngủ trưa trong giờ làm việc
Jan 31, 2007
Cali Today News - Các công nhân ở Pháp đã hưởng được luật lao động làm việc 35 giờ/tuần và chế độ nghỉ rộng rải. Nay đến lượt Bộ Trưởng Y Tế Pháp muốn các công nhân này được ngủ buổi trưa.
Trong năm nay Pháp sẽ chi ra 9 triệu đô la trong năm nay để cổ động công chúng Pháp lưu ý về các vấn nạn của giấc ngủ. Bộ y tế công bố con số là cứ 3 người dân Pháp thì có 1 người bị chứng rối loạn giấc ngủ hành hạ.
Cũng theo bộ Y Tế thì có 56% dân chúng Phap than phiền là ngủ nghê không đàng hoàng sẽ ảnh hưởng đến khả năng làm việc của họ.
Bộ Trưởng Xavier Bertrad nói: “Thế tại sao lại tránh bàn về ngủ trưa, có phải là chuyện cấm đoán hay khó nóí gì đâu?”. Ông kêu gọi nên có nghiên cứu thêm về vấn đề này và bản thân ông thì ủng hộ cho phép ngủ trưa.
Ngành bảo hiểm sức khỏe của Pháp thì ủng hộ chuyện ngủ ngon sẽ có lợi ra sao. Trang Web của Bộ Y Tế Pháp cống hiến nhiều lời khuyên cho công dân Pháp để có thể ngủ ngon.
Trong các lời khuyên có chuyện dân Pháp phải bớt dùng cà phê, trà, cola và sau 8 giờ tối không nên tập thể thao gì hết. Nếu ngáp thì phải đi ngủ ngay và không nên thức khuya làm việc.
Mỗi năm có tới từ 20 đến 30% số tai nạn trên các freeway của Pháp là do các tài xế “gủ gục” gây ra.
Lê Lộc theo AP
http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=b329acb49ccb9d60c73831c65e56d375
Ăn nhiều rau giúp giảm nguy cơ tuyến tiền liệt nở lớn
Thursday, February 22, 2007
WebMD - Chứng bệnh tuyến tiền liệt nở lớn có vẻ ít khi xảy ra cho những người đàn ông thường ăn nhiều rau, theo một cuộc nghiên cứu mới.
Bệnh tuyến tiền liệt nở lớn (từ ngữ y khoa: benign prostatic hyperplasia) (viết tắt là BPH) thường xảy ra cho những người đàn ông lớn tuổi. Bệnh này không thuộc loại ung thư, nhưng nó có thể gây cản trở cho đường tiểu tiện. Cho tới nay các chuyên gia vẫn chưa biết đích xác nguyên nhân gây ra bệnh BPH.
Theo thống kê, hơn một nửa tổng số đàn ông ở Hoa Kỳ từ 60 tới 70 tuổi, và có tới 90 phần trăm ở tuổi từ 70 tới 90, mắc bệnh BPH. Triệu chứng thông thường nhất của bệnh này là cần đi tiểu thường xuyên, nhất là vào ban đêm.
Các nhà nghiên cứu viết trong phúc trình: “Những điều tìm thấy của chúng tôi phù hợp với sự tin tưởng rằng một chế độ dinh dưỡng có nhiều rau có thể giảm nguy cơ phát sinh bệnh BPH.”
Trong số những người tham gia cuộc nghiên cứu có Bác Sĩ Sabine Rohrmann, thuộc trường y tế công cộng Johns Hopkins Bloomberg School of Public Health ở Baltimore, Md.
Bản phúc trình của họ đã đăng trên đặc san The American Journal of Clinical Nutrition's chuyên về dinh dưỡng số Tháng Hai năm 2007.
Cuộc nghiên cứu gồm 32,000 người
Những số liệu được lấy từ hơn 32,000 người đàn ông làm nghề săn sóc y tế đã tình nguyện ghi danh tham gia cuộc nghiên cứu y khoa dài hạn, khởi sự trong năm 1986.
Vào lúc bắt đầu cuộc nghiên cứu, những người đàn ông đó ở tuổi từ 46 tới 70 (tuổi trung bình của họ là 51).
Những người tham gia đã trả lời danh sách những câu hỏi để tìm hiểu xem họ có ăn 131 thứ thực phẩm thường xuyên hay không, trong số đó có nhiều loại trái cây và rau.
Những người tham gia cũng cho biết những chi tiết về tuổi tác, sức nặng, sắc tộc, hoạt động thể chất, hút thuốc lá, uống rượu, và tiểu sử y khoa của họ, vào lúc bắt đầu cuộc nghiên cứu. Sau đó, những người này cập nhật những thông tin y khoa của họ cách hai năm một lần.
Bắt đầu từ năm 1992, những người tham gia khai báo bất cứ những vụ giải phẫu hoặc những triệu chứng về tuyến tiền liệt nở lớn không liên quan tới bệnh ung thư.
Tới năm 2000, có tổng cộng 6,092 người đã trải qua những cuộc giải phẫu, hoặc phát hiện những triệu chứng, từ trung bình cho tới cao độ, thuộc những vấn đề của đường tiểu tiện liên quan tới chứng bệnh BPH.
Những mức tiêu thụ rau và trái cây
Những lời khai về dinh dưỡng vào lúc khởi đầu cuộc nghiên cứu trong năm 1986 cho thấy sự tiêu thụ trái cây và rau của những người tham gia là từ mức thấp, gồm gần 3 phần (serving - thí dụ 1 trái táo, 1 củ cà-rốt, một đĩa nhỏ rau sống, hoặc 1 ly nước trái cây nguyên chất 6 ounces, được coi là 1 phần) mỗi ngày, cho tới mức cao, gồm gần 10 phần mỗi ngày.
Khi các nhà nghiên cứu khảo sát kỹ những số liệu, họ thấy rằng sự tiêu thụ nhiều rau hơn - chứ không phải trái cây - có vẻ ngăn ngừa được bệnh BPH.
Những người tiêu thụ nhiều rau nhất thì giảm được 11 phần trăm nguy cơ phải giải phẫu vì bệnh BPH, hoặc có những triệu chứng từ trung bình cho tới cao độ của bệnh này vào năm 2000.
Những cuộc nghiên cứu trước đây cho thấy rằng một số chất chống oxy hóa - như beta-carotene, lutein, và sinh tố C - có tác dụng giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh BPH. Nhưng theo cuộc nghiên cứu nói trên, những chất này cần phải phát xuất từ trái cây và rau, thay vì từ thuốc bổ sung.
Dù sao, các chuyên gia nói rằng cuộc nghiên cứu này không chứng tỏ rằng chỉ riêng sự tiêu thụ nhiều rau là có thể giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tuyến tiền liệt nở lớn.
Nhưng những kết quả nói trên về phúc lợi của rau vẫn tồn tại sau khi các nhà nghiên cứu đã điều chỉnh những yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới sự phát sinh bệnh BPH. (n.m.)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=56113&z=14
Khoa Học: Cỏ Ngọt Thế Đường
[29/12/2006 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]
Võ Quang Yến
29.12.2006
Hình: Cây cỏ ngọt không phải là một cây mới được khám phá. Chất ngọt chiết xuất cũng không phải mới được bán ra thị trường. Ở Paraguay, người ta gọi nó là cây Caá-êhê, Azucá-caá hay Kaá-hê-e. Tên khoa học của nó lúc ban đầu là Eupatorium rebaudianum vì O. Rebaudi là người đầu tiên đã nói đến nó.
Vào thời đại nầy, nhiều thức ăn đem lại khẩu vị, nhiều chất thuốc gây ra khoái cảm đang bị lên án, hoặc vì liều dùng quá độ, hoặc vì sử dụng lâu ngày nên phát sinh lệ thuộc, phá hủy sức khoẻ, lắm khi thật sự chúng đã có tác dụng phần nào lên thần kinh hệ hay các cơ quan khác trong cơ thể : thuốc lá, cà phê, rượu, muối , và… đường ! Thật ra, bốn ngàn năm trước đây người Ai Cập đã thích ăn đồ ngọt trong mật ong, trái chà là. Trong lăng mộ vua Toutankhamon đã có thấy chất ngọt glycerrhizin phát xuất từ cây cam thảo. Ngày nay phỏng chừng trên thế giới hàng năm khoảng 100 triệu tấn đường được tiêu thụ. Rẽ tiền, bùi miệng, đường lại rất cần thiết cho việc phát dục cơ thể. Tuy nhiên, nó cũng có mặt trái. Vì cống hiến nhiều năng lượng, nó có thể làm cho cơ thể béo phì, lắm khi chẳng phải vì do dùng quá độ. Trong miệng, các vi khuẩn có thể dùng nó chế tạo ra acid tác dụng lên răng. Vì vậy, để tránh lên cân, hư răng, cũng như ở các bệnh nhân mắt chứng đái đường, người ta buộc lòng phải kiêng cử hoặc dùng đường ít lại, kiêng kẹo, kiêng kem, bỏ chè, bỏ nước ngọt,… hay tốt hơn, tìm kiếm một chất thay thế. Chất nầy cốt yếu phải cống hiến năng lượng ít hơn hoặc có độ ngọt lớn để dùng số lượng nhỏ lại. Dù sao, nó phải thỏa mãn những điều kiện không được phân hủy trong miệng khi có nước miếng tác dụng vào và nhất là không được biến hóa trong môi trường acid của dạ dày như đường.
Được chiết xuất từ mía hay củ cải đường, đường là một hóa chất gọi là saccharose, do hai phân tử glucose và fructose liên kết với nhau mà tạo thành. Glucose phát xuất từ danh từ Hy Lap glukos (mềm, dịu), còn saccharose nguyên gốc là từ chữ phạn çarkara (hột). Khi Alexandre le Grand đi đánh giặc bên Ba Tư về, ông đã nói đến "một cây lau làm mật mà không cần ong !" Thời Trung cổ, mía được trồng ở các nước Ả Rập, sau mới dần lan qua các nước nhiệt đới. Năm 1747, ông A.S. Markgraf ở Đức tìm ra saccharose trong củ cải đường, nhưng phải đợi đến lúc lục địa bị Napoléon I phong tỏa, kỹ nghệ đường từ củ cải mới được phát triển. Nếu fructose có nhiều trong trái cây (Âu Mỹ gọi trái cây là fruit), glucose hiện diện trong nhiều thảo mộc, từ trái qua lá, từ nhựa cây qua nhụy hoa, nhiều khi trùng hợp thành dãy dài như cellulose, chitin,… đặc biệt trong tinh bột mà đem thủy phân ở môi trường acid thì phân hủy ra glucose. Vì vậy, muốn tránh saccharose thì theo nguyên tắc phải tránh nhiều thảo mộc, ngay cả đường chiết xuất từ các các cây thích (érable) (Canada), dừa cọ (palmier) (Thái Lan), chà là (datte) (Pakistan), bắp (Hoa Kỳ).
Vì vậy, nhiều phòng thí nghiệp kiếm cách chế tạo những phân tử không biến hoá trong cơ thể từ nguyên liệu saccharose hay glucide sẵn có. Biết được cho thêm chlor vào phân tử thì hoá chất càng ngọt hơn, hãng Tate and Lyle đã cho đăng ký hai văn bằng sáng chế hai chất chloro desoxy saccharose và trichloro galacto saccharose, ngọt hơn saccharose 650 lần, rất ổn định. Những phân tử như thio fructose cũng đã được nói đến. Mặt khác, công ty Boise Cascade Corp. cho tổng hợp các L-glucid (fructose, arabinose, galactose) không biến hóa trong cơ thể. Họ dùng enzym cho tác dụng lên các đồng vị D-glucid của thú vật. Phương pháp nầy tương đối đắt tiền nên L-glucid chưa thành thương phẩm mặc dầu hãng Biospherics đã ghi văn bằng khai thác dưới nhãn hiệu Lev-O-Cal. Cũng dùng enzym của những Streptomyces phaechromogenes, Bracillus coegulans, người ta chế biến fructose từ glucose. Từ 1963, ở Viện Khảo cứu Bộ Canh nông Nhật Bản, nhờ dùng một amylase mà fructose được chế tạo từ tinh bột gạo, bắp, mì hay lúa miến (sorgho). Sau nầy, các enzym của Trichoderma vivide, T. longibrachiatum, G. Geotrichum candidum còn tác dụng lên cả cellulose vải bông đem lại fructose. Đặc biệt từ saccharose, những enzym của Strepmyces phaechromogenes, Bacillus coagulans, Pummularia pullulans đã được dùng để biến hóa glucose ra fructose và điều chế một xirô fructose, còn gọi là isoglucose. Các nhà khảo cứu ở Viện Nghiên cứu Canh nông Pháp INRA dùng các inulase phát xuất từ nấm men như Pichia polymorpha, Debaryomyces phaffii cho tác dụng lên các chất trùng hợp fructose, gọi là inulin, ở trong các cây actisô, rau diếp xoăn (chicorée), cúc vú (topinambour) , cũng sản xuất được fructose (3).
Từ chế biến đường với các chất thiên nhiên, các phòng thí nghiệm mạnh bước qua phương pháp tổng hợp nhân tạo các chất ngọt không biến hóa trong cơ thể. Chất được điều chế đầu tiên năm 1897 và hiện nay đang còn được dùng là saccharin. Ngọt gấp 300-400 lần saccharose, ổn định ở môi trường acid nên dùng được trong nước ngọt, thường dưới thể natri hay calci. Nhược điểm của nó là có vị chát và kim loại nên ở Hoa Kỳ nó được trộn lẫn với cyclamat trong nước ngọt. Người ta nghi saccharin có thể gây ung thư vì đã thấy ở bóng đái chuột. Chất cyclamat nầy, người ta tình cờ phát hiện ra vị ngọt năm 1937; nó chỉ ngọt hơn saccharose có 30 lần nhưng rất dễ hòa tan trong nước và nhất là không để lại dư vị trong miệng như saccharin. Nhưng cyclamat lại có thể bị phân hủy ra cyclohexamin đã từng gây ung thư trong cơ thể chuột nên năm 1969 Cơ quan kiểm ba thức ăn và thuốc men Hoa Kỳ Food and Drug Administration FAD cấm dùng nó, để cho saccharin mặc sức phát triển trên thị trường với nhiều tỷ USD mỗi năm. Tuy vậy, qua năm 1977, vì có khả năng gây ung thư trên chuột, đến lượt saccharin cũng bị đe dọa cấm dùng.
Trong bối cảnh nầy, aspartam ra đời năm 1965, cũng tình cờ khi J.M. Schlatter tổng hợp chất gastrin ở hãng Searle. Ngày nay người ta chế tạo nó bằng phương pháp hóa học hay sinh học (dùng enzym của Pseudomonas putida, Alcaligenes faecalis hay nấm Sporobomyces odorus) ghép nối aspartic acid vào phenylalanin, nhưng năng suất kém và còn rất đắc (55 USD/kg) so với saccharin (10 USD/kg). Là một dipeptid, nó ngọt hơn saccharose 200 lần, lại không để lại chút dư vị nào, nhưng không ổn định ở nhiệt độ cao, nghĩa là không nấu được với đồ ăn, cũng như phân hủy dần trong nước, nghĩa là nước ngọt có aspartam không giữ được lâu. Cho trộn aspartam với saccharin thì hỗn hợp ngọt hơn và ổn định hơn khi hai chất đứng riêng một mình. Khi aspartam bị phân hủy, nó tách ra làm hai phân tử nguyên gốc aspartic acid và phenylalanin. Chất sau nầy rất độc cho ai không có một enzym gọi là phenylamin hydroxylase để chuyển hóa nó ra tyrosin (chứng phenylketonuria) cho nên bên Hoa Kỳ trên nhãn những thức ăn có chứa aspartam bắt buộc phải có ghi rõ (3). Vừa rồi, cơ quan Ramazzini bên Ý đưa tin aspartam có khả năng gây ung thư nhưng nhìn kỹ thì chỉ là mới có kết quả trên chuột cái với liều lượng tương đối lớn. Thị trường aspartam hiện nay lên tới nhiều tỷ USD mỗi năm. Chất ngọt khám phá sau cùng và có nhiều triển vọng là kali acesulfam, cũng tình cờ mà Clauss và Jensen ở hãng Hoechst bên Đức tìm ra được năm 1973. Ngọt gấp 200 lần saccharose, ổn định hơn aspartam ở nhiệt độ cao và môi trường acid, lại cũng rẽ tiền, nay mai nó sẽ cạnh tranh với cả sacharin lẫn aspartam. Hỗn hợp acesulfam aspartam vừa nâng cao khẩu vị vừa rất ổn định, chắc rồi đây sẽ được dùng nhiều khi biết acesulfam chỉ giá có 50 USD/kg.
Ngoài hai lối biến chế từ chất thiên nhiên và nhân tạo tổng hợp, phương cách thứ ba là tìm kiếm các loài thảo mộc chứa sẵn chất ngọt khác với saccharose. Chất ngọt thiên nhiên đầu tiên được nói đến năm 1855 nằm trong trái cây Thaumatococus daniellii (vì người miêu tả đầu tiên là một bác sĩ phẫu thuật người Anh tên là M.W.F. Daniell), mọc bên xứ Soudan, nhưng mãi đến 1968 mới thấy xuất hiện trong bản thống kê của Sở Canh nông Hoa Kỳ trong loại các cây nhiệt đới có khẩu vị bất thường. Năm 1973, Van der Wel (Công ty Unilever) chiết xuất 5 dạng chất thaumatin, ngọt hơn 5000 lần saccharose và hãng Tate and Lyle đem bán dưới nhãn hiệu Talin (16.500 USD/kg). Rất ổn định, các protein nầy để lại vị ngọt hơi lâu trong miệng. Đằng khác vì năng suất sản xuất kém nên nó không được đưa ra kỹ nghệ. Ngày nay nó chỉ được dùng nhiều bên Nhật Bản trong đồ ăn, canh cháo qua tên Sun Sweet T1. Để rút ngắn thời gian vị ngọt lưu lại, người ta thường trộn nó với các amin acid hay acid hữu cơ (2). Đồng thời với thaumatin, trái của cây Dioscorophyllum cunminsii cũng cống hiến một protein ngọt, gọi là monellin vì được hãng Monell Chemical Sences Centre bên Hoa Kỳ chiết xuất năm 1972 song song với phòng Unilever Research bên Hòa Lan. Ngọt gấp 2500 lần saccharose, chất nầy không có tương lai vì chất ngọt khó chiết xuất, ít ổn định, cây lại khó trồng, trái khó trữ (3).
Trước các chất ngọt đủ thứ, thiên nhiên cũng như nhân tạo, cạnh tranh kinh tế thấy ra không dễ dàng, cây cỏ ngọt trồng ở Việt Nam sẽ chiếm địa vị nào ? Thật ra, nó không phải là một cây mới được khám phá, chất ngọt chiết xuất cũng không phải mới được bán ra thị trường. Ở Paraguay, người ta gọi nó là cây Caá-êhê, Azucá-caá hay Kaá-hê-e. Tên khoa học của nó lúc ban đầu là Eupatorium rebaudianum vì O. Rebaudi là người đầu tiên đã nói đến nó. Năm 1899, một nhà thảo mộc người Paraguay, M.C. Bertoni, xác định nó là cây thuộc loại stevia, qua năm 1905 miêu tả rành mạch và đổi tên nó thành Stevia rebaudiana Bertoni (Hemsl ở Việt Nam) (11) thuộc họ Cúc Compositae (còn có tên Asteraceae). Sau đó, P. Rasenack (1908), rồi đến lượt K. Dieterich (1909) chiết xuất hai chất trong cỏ ngọt : eupatorin (từ chi Eupatorium), một chất rắn kết tinh tan hòa trong nước và rượu, và ribaudin, một chất khoáng vô định hình không tan vào dung dịch nào cả (1). Năm 1915, R. Robert tìm ra được trong cỏ hai chất saponin, một chất trung hòa là eupatorin, chất kia có tính chất acid. Sau khi Bertoni đề nghị sửa tên eupatorin thành estevina hay stevin (từ stevia). Liên hiệp Quốc tế Hóa học nhóm ở Copenhague năm 1924 chỉ định tên steviosid cho chất nầy.
Công trình khảo cứu đầu tiên sâu rộng là do R. Lavielle, trước với M. Bridel, sau với M. Pommaret, thực hiện năm 1931 (4). Dùng rượu ở 70 độ, từ một kilô cây, họ chiết xuất được 4,5g steviosid và nghiên cứu những tính chất vật lý, hóa học, sinh lý học của nó. Họ cũng có thử tìm công thức của steviosid nhưng với những phương tiện phân tích hồi đó, chẳng đạt được hoàn toàn mục đích tuy biết steviosid gồm có một phần không phải glucosid liên kết với ba phân tử glucos-d. Trong kỳ thế chiến thứ hai, Melville đề nghị Vườn Bách thảo Hoàng gia Royal Botanic Garden đem trồng stevia bên Anh. Năm 1945, chiến tranh chấm dứt, đến lượt Gattoni muốn thuyết phục Phân khoa Cây thuốc của Viện Nông học Quốc gia Instituo Agronomico National xứ Paraguay trồng cây nầy ở mức kỹ nghệ để xuất khẩu thay thế saccharin (3). Cả hai dự án đều không được thực hiện nhưng bắt đầu từ đây cuộc khảo cứu trên cỏ ngọt được thúc tiến mạnh mẽ. Ở Việt Nam, chất ngọt đã được chiết xuất (9,43%) từ cây trồng ở Lâm Đồng và, nhắm mục đích tăng gia năng suất và chất lượng, Cu2+ đã được dùng để trồng cây ở Bạch Thái (11).
Tuy vậy, phải đợi đến những năm gần đây, với máy móc phân tích tối tân, hiện đại, người ta mới biết rõ cặn kẽ công thức các hoá chất trong cỏ ngọt. Ngày nay, ai cũng đồng ý chất ngọt chính trong cây là steviosid, ngọt gấp 300 lần saccharose. Bên cạnh steviosid là rebaudiosid, số lượng ít hơn nhưng ngọt hơn steviosid 1,2-1,5 lần. Cả hai chất nầy đều gồm có một phân tử cơ sở nối liền với ba hoặc bốn phân tử glucose. Số glucose nầy có thể lớn hơn, cách liên kết cũng có thể thay thế : dần dần 5 chất rebaudiosid A,B,C,D,E được khám phá ra. Có khi một phân tử rhamnose thay thế glucose đem lại là 2 chất dulcosid A và B. Nếu steviosid và ribaudiosid mất tất cả các phân tử steviosid thì chúng trở thành steviol, và tùy theo các nhóm thay thế, chúng làm thành một nhóm 8 sterebin A,B,C,D,E,F, G,H. Người ta cũng có tìm ra những chất jhanol (trước kia đã được chiết xuất từ cây Eupatorium jhanii), austroinulin (hiện diện trong cây Austroeupatorium inulaefolium) và dẫn xuất của nó. Ngoài ra, tuy số lượng rất nhỏ, các nhà khảo cứu cũng xác định được trong cỏ cấu tạo của 3 sterol (stigmasterol, sitosterol, campesterol) , 8 flavonoid, bên cạnh cosmosiin và 2 chất dễ bốc hơi caryophyllen, spathuienol. Đấy là chưa nói đến kim loại, theo thứ tự nhiều ít : Ca, Mg, Fe, Mn, Sr, Cu, Cr, Cd. Cuộc khảo cứu hoa cỏ ngọt cũng phát hiện ra được steviosid, rebaudiosid A, jhanol, austroinulin và hai dẫn xuất acetyl của nó.
Về mặt sinh vật học, sự hiện diện của gibberellin A20 trong cỏ ngọt (một trong số năm gibberellin mà người ta biết) chứng minh steviol có thể biến hóa thành gibberillin (5). Kỳ lạ nhất có lẽ là việc khám phá ra trong lá cỏ ngọt hai chất kháng sinh : chúng có tác dụng lên Pseudomonas aeruginosa và Proteus vulgaris (8). Phần chiết stevia có tính chất ức chế rotavirus (16), chống vi khuẩn Helicobacter pylori nên được đề nghị đem dùng trị u khối (17). Phần chiết hay những hoạt chất của stevia có thể dùng để uống giảm hay chữa viêm tế bào (26). Những flavonoid trong cây (4,57%) có tính chất chống những vi khuẩn Bacillus subtilus, Staphylococcus aureus, Escherichia coli (10). Những người bị bệnh đái đường không những có thể dùng steviosid mà chất nầy có khả năng hạ đường trong máu (25), giảm huyết áp trên chuột (13), trên chó (23). Cũng ở trên chuột, nó ức chế sự phát triển ung thư trên da. Cho trộn trong thuốc đánh răng, nó có tác dụng lên vi khuẩn Streptococcus mutans kết dính lên răng và cấu thành các mảng răng (18,19,24). Nó đã được dùng làm thuốc kích thích tóc mọc (12,22), khử dioxin trong đất (20,21). Lá và cành có tính chất chống histamin nên có thể dùng để kiềm chế những triệu chứng như ngứa ngáy, đau đớn (14). Lá, cành và rễ cây stevia được trộn lẫn với nhau làm sợi dệt áo quần, khăn bàn, mùng màng,… và giấy chống vi khuẩn (15).
Nói tóm lại, lược đọc các báo chí khoa học, thấy ra cỏ ngọt được rất nhiều hãng kỹ nghệ, nhiều phòng thí nghiệm kể cả ở Việt Nam, chú ý đến. Trong khoảng trên dưới 500 bản báo cáo, bên cạnh một số lớn các bài khảo cứu thuần túy, phân tích và xác định cấu tạo, những năm gần đây còn có một số lớn bàn về các phương cách chiết xuất, làm tinh khiết, những ứng dụng chất ngọt vào kỹ nghệ, đặc biệt khoảng một trăm văn bằng sáng chế mà ba phần tư là của Nhật Bản. Trong số 184 cây stevia đã được khảo sát (9), 18 loại đã cống hiến chất ngọt nhưng không có loại nào cho chất ngọt nhiều bằng Stevia ribaudiana. Ngày nay, người ta thường dùng nước để chiết xuất chất ngọt trong cây, nhưng cũng thấy có nhiều trường hợp dùng rượu (methanol, ethanol hay butanol) pha lẫn với nước. Còn có một phương pháp chiết xuất dùng CO2 lỏng ở trạng thái siêu tới hạn (supercritic) cống hiến những hoá chất rất ròng sạch sau khi xử lý khoan quay, ly tâm và nhiều cuộc lọc qua màng lọc, cột trao đổi ion,… Để loại trừ dư vị, ngoài cách dùng màng lọc nửa thấm (semipermeable) , những phương pháp đề nghị có thể chia làm hai loại : sử dụng hoặc sắc phân hoặc kim loại, khoáng chất. Cột sắc phân thường là silicagel, amberlite, duolite zeolite (đủ cỡ), các chất trùng hợp metaphenylenediamin formaldehyd hay styren divinylbenzyl,… Kim loại, khoáng chất được dùng là Al, Fe, Ca dưới các thể oxid, chlorid, sulfat, sulfat, carbonat, thường thấy nhất là calcium dihydroxid. Năng suất chiết xuất nằm trong vòng 5-7% nhưng cũng có văn bằng đưa ra số 11-26% (7).
Những năm gần đây, cỏ ngọt được trồng thành cây kỹ nghệ ở các nước Brazyl, Đại Hàn, Đài Loan. Để thử tăng năng suất chất ngọt, đã thấy có dùng enzym của Aspergillus oryzae biến hoá steviosid ra thành rebaudiosid A vì chất nầy ngọt hơn (6). Bên Nhật Bản, hãng Toyo Sugar refining bán một chất ngọt mang tên Stevia, ngọt hơn 150 lần saccharose với ít nhiều dư vị : chất nầy được dùng trong canh, cháo, xirô, nước chấm. Công ty Toyo Soda dùng một enzym khác, glycosyl transferase, cho tác dụng trực tiếp lên stevia và tinh bột đem lại một chất chỉ ngọt hơn 120 lần saccharose nhưng mất được phần lớn dư vị. Từ 1983, hãng Jefco cho biết đã dùng một phương pháp chiết xuất rất hiện đại và có hiệu quả để chế biến một chất ngọt hơn 300 lần saccharose, loại bỏ được mọi bất tiện lúc ban đầu của steviosid : vị đắng, ít ổn định. Để cạnh tranh với công ty nầy, hãng Tama Biochemical dùng phương pháp cấy mô để cho tăng số lượng steviosid trong cây. Cũng nên biết thêm ở Viện Đại học Jerusalem, người ta khảo cứu cách thích ứng cỏ ngọt vào điều kiện nóng nực, thiếu đất, thiếu nước của Israel (3).
Nhìn chung, mặc dầu việc tìm kiếm chất ngọt thay thế đường đang tiến hành mạnh mẽ, đường mía và củ cải đường vẫn còn được dùng nhiều và khắp nơi. Nếu có cạnh tranh chăng thì là giữa saccharose và isoglucose (xirô fructose), nghĩa là giữa kỹ nghệ mía - củ cải đường và kỹ nghệ tinh bột. Các chất ngọt khác, thuộc về kỹ nghệ dược phẩm, hiện chỉ giữ vai trò thứ ba, chờ đợi một dịp để phát triển. Trong các chất ngọt thế đường đứng đầu là aspartam. Nếu các hãng chế tạo Nhật Bản chưa kình địch lại nỗi aspartam thì steviosid sợ e rồi cũng chẳng có đủ sức lên đài đánh vật. Trừ phi chỉ nhắm bán hàng nội địa, các nhà kinh doanh Việt Nam từng theo dõi tình hình quốc tế, mặc dấu WTO, APEC, chắc đã thấy mọi khó khăn để xuất cảng một một món hàng thoạt xem tưởng như đầy tương lai hứa hẹn .
Thông tin Khoa học và Công nghệ 4 (1995) 8-14 (tài liệu rút gọn và có bổ túc)
Tham khảo
1- F. Bell, Stevioside : A unique sweetening agent, Chem. Ind. 17 (1954) 897
2- J.D. Higginbotham, A la recherche de nouveaux édulcirants, L’acualité chimique (5) (1980) 21
3- J. Roque, Les édulcorants, Biofutur (3) (1984) 19
4- M. Bridel, R. Lavielle, M. Pommaret, Le pricipe à valeur sucrée du Kaá-hê-é (Setevia rebaudiana Bertoni), Bull. Soc. Chim. Biol. (13) (1931) 636, 781 ; (13) (1976) 1248
5- L.M. Alves, M. Ruddat, The presence of gibberellin A20 in Stevia rebaudiana and its significance for the biological activity of steviol, Plant Cell Physiol. (1) 20 (1979) 123
6- N. Kaneda, R. Kasai, K. Yamasaki, O. Tanaka, Chemical studies on sweet diterpene-glycoside s of Stevia rebaudiana : conversioin of stevioside into rebaudioside A, Chem. Phar. Bull. (9) 25 (1977) 2466
7- R. Kato, Y. Sakaguchi, N. Motoi, Extraction and purification of stevioside, Japan Kokai 77,136,200 (1977) 6 tr.
8- Koshiro Chujiro Shaten K.K., Stevia components as sweeting agents as antibiotics, Jpn. Kokai Tokkyo Koho 80 92,323 (1980) 3 tr.
9- D.J. Soejarto, A.D. Kinghorn, N.R. Farnsworth, Potential sweetening agents of plant origin. III . Organoleptic evaluation of stevia leaf herbarium samples for sweetness, J. Nat. Prod. (5) 45 (1982) 590
10- Dao Kim Nhung, Le Viet Hong, Biological properties of flavonoids from Stevia rebaudiana Bert. Tap Chi Duoc Hoc (2) (1995) 17
11- Nguyen Thanh Hong, Nguyen Thi Minh, Determination and extraction of sweetener substance from Vietnamese Stevia rebaudiana, Tap chi Hoa hoc (1) 31 (1993) 39 ; Nguyen Van Ty, Influence of the concentration of copper sulfate solution on some physicobiochemical parameters and yield capacity of Stevia rebaudinana Hemsl. Planted on hill land in Bac Thai province, Tap Chi Duoc Hoc (7) (1996) 28
12- E. Takeoka, C. Hamada, O. Suzuki, M. Tajima, Hair growth period extended agent, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 10265347 (1998) 12 tr.
13- P. Chan, D.E. Xu, J.C. Liu , Y.J. Chen, B. Tomlinson, W.P. Huang, J.T. Cheng, The effect of stevioside on blood pressure and plasma catecholamines in spontaneously hypertensive rats, Life Sci. (19) 63 (1998) 1679
14- M. Sato, M. Takeuchi, N. Sato, Antihistaminic substance of stevia origin, U.S. US 5958419(1999) 7 tr
15- K. Saito, M. Date, S. Ogawa, Antibacterial stavia paper manufactured by pulping pulverized stevia with alkali solutions and forming paper from the pulp and antibacterial stevia fibers therefrom andmanufacture thereof, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2000290890 (2000)7 tr.
16- K. Takahashi, S. Shigeta, N. Sato, Stevia extracts for the inhibition of rotavirus, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2001106635 (2001) 3 tr.
17- K. Takahashi, S. Shigeta, N. Sato, Stevia rebaudiana Bertoni extraction as antibacterials against Helicobacter pylori, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2001122793 (2001) 4 tr.
18- S. Sugiyama, N. Doi, S. Ejiri, Y. Ishii, Dentifrices containing apatite and polymers, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2001131041 (2001) 8 tr ; JP 2001131042 (2001) 11 tr.
19- Y. Suzuki, T. Yokoo, Liquid dentifrice compositions containing cationic bactericides, polyoxyethylene alkyl ethers, and cationic polymers, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2001139433 (2001) 8 tr.
20- B.E. Kim, M.K. Kim, K.T. Kim, R.W. Chang, J.W. Jong, Y.G. Kim, Study on the degradation of dioxin by the Stevia extract, Organohalogen Comp.54 (Dioxin 2001) 251
21- Y.G. Kim, A method for preparing dioxin decomposers from Stevia, a dioxin decomposer prepared by the method and a method for decomposing dioxins using it, PCT Int. Appl. WO 2001040495 (2001) 27 tr.
22- H. Takada, K. Teraoka, B.H. Kim, Hair growth stimulants containing Stevia and Udo extracts, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2003040790 (2003) 5 tr.
23- J.C. Liu, P.K. Kao, P. Chan, Y.H. Hsu, C.C. Hoi, G.S. Lien, M.H. Hsieh, Y.J. Cheng, J.T. Cheng, Mechanism of the antihypertensive effect of stevioside in anesthetized dogs, Pharmacol. (1) 67 (2003) 14
24- H. Hanada, H. Senpuku, M. Arakawa, T. Ishizaki, S. Sakuma, Dental drug delivery system agents containing hydroxyapatite, and control of cariogenic bacteria using them, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2004035416 (2004) 18 tr.
25- S. Gregersen, P.B. Jeppesen, J.J. Holst, K. Hermansen, Antihyperglycemic effects of stevioside in type diabetic subjets, Metab., Clin. Exp. (1) 53 (2004) 73
26- B. Bogicevic, Oral application of extract of Stevia rebaudiana or its active substances for the elimination of cellulite, Pct Int. Appl. WO 29005048973 (2005)
http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=5547
Đời Sống: Cà Rốt, Nhân Sâm Của Người Nghèo
[06/01/2007 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]
BS. Nguyễn Ý Đức
Texas, Hoa-Kỳ
06.01.2007
Sâm là món thuốc quý trong y học đông phương mà ngày nay y học thực nghiệm Tây phương cũng phần nào công nhận. Nhưng sâm là dược thảo đắt tiền nên dân bạch đinh ít người có cơ hội sử dụng. Và các nhà y học cổ truyền đã khám phá ra một thảo mộc có giá trị tương tự như sâm để thay thế. Đó là củ cà rốt nho nhỏ, màu đỏ mà các vị lương y này coi như là một thứ nhân sâm của người nghèo.
Có lẽ vì là “nhân sâm của người nghèo”, nên cà rốt được tạo hóa đặc biệt ưu tiên ban cho dân chúng ở vùng đất sỏi đá Afghanistan từ nhiều ngàn năm về trước để dân chúng bồi bổ, tăng cường sức khỏe.
Từ mảnh đất nghèo khó đó, cà rốt được các đế quốc La Mã, Hy Lạp khi xưa biết tới giá trị dinh dưỡng cũng như y học. Họ mang về trồng làm thực phẩm và để chữa bệnh. Các danh y hai quốc gia này như Hippocrattes, Galen, Diocorides..đã lên tiếng ca ngợi cà rốt vừa là thức ăn ngon, vừa là dược thảo tốt để chữa bệnh cũng như tăng cường khả năng tình dục.
Trải qua nhiều thế kỷ, cà rốt du nhập tới các quốc gia khác trên khắp trái đất và là món ăn ưa chuộng của mọi người dân, không kể giầu nghèo. Người Tây Ban Nha mang cà rốt đến châu Mỹ vào thế kỷ thứ 15, rồi người Anh cũng mang theo khi họ đi chinh phục Mỹ vào thế kỷ thứ 16.
Hiện nay, Trung Hoa đứng đầu về số lượng sản xuất cà rốt, tiếp theo là Hoa Kỳ, Ba Lan, Nhật Bản, Pháp, Anh và Đức. Mỗi năm, Hoa kỳ thu hoạch trên 1,5 triệu tấn cà rốt, hơn một nửa được trồng ở tiểu bang California.
Cà rốt có nhiều mầu khác nhau như trắng, vàng, đỏ và tím đỏ. Loại cà rốt đầu tiên ỏ A Phú Hãn có mầu trắng, đỏ, vàng. Hòa Lan là quốc gia đầu tiên trồng cà rốt màu cam vào khoảng đầu thế kỷ 17.
Mầu của cà rốt tùy thuộc vào một số yếu tố như là: nhiệt độ nóng quá hoặc lạnh quá làm giảm mầu cà rốt; cà rốt thu hoạch vào mùa Xuân và Hạ có mầu xậm hơn là vào mùa Thu và Đông; tưới nước quá nhiều và nhiều ánh sáng làm giảm mầu cà rốt...
Cà rốt được trồng bằng hạt từ tháng Giêng tới tháng Bảy, nẩy mầm sau hai tuần lễ và có củ trong thời gian từ hai tới ba tháng.
Cà rốt có thể nhỏ síu bằng đầu ngón tay em bé hoặc dài tới ba gang tay, đường kính bằng cổ tay.
Cà rốt là tên phiên âm từ tiếng Pháp carotte. Tên khoa học là Dacus carota. Người Trung Hoa gọi là Hồ La Bặc. Theo họ, loại rau này có nguồn gốc từ nước Hồ, và có hương vị như rau la-bặc, một loại cải của Trung Hoa.
Giá trị dinh dưỡng
Một củ cà rốt cỡ trung bình có 19 mg calci, 32 mg phospho, 233 mg kali, 7 mg sinh tố C, 7 gr carbohydrat, 5 gr đường, 2gr chất xơ, 1gr chất đạm, 6.000mcg sinh tố A, 40 calori, không có chất béo hoặc cholesterol.
Một ly (240ml) nước cà rốt lạnh nguyên chất cung cấp khoảng 59 mg calci, 103 mg phospho, 718 mg kali, 21 mg sinh tố C, 23 g carbohydrat và 18.000mcg sinh tố A. Thật là một món giải khát vừa ngon vừa bổ dưỡng.
Cà rốt như thực phẩm
Vị dịu ngọt của cà rốt rất thích hợp với nhiều thực phẩm khác, cho nên có nhiều cách để nấu nướng cà rốt.
Cà rốt có thể ăn sống hay nấu chín với nhiều thực phẩm khác, nhất là với các loại thịt động vật. Người viết không dám lạm bàn. Chỉ xin thưa rằng: bò kho mà không có cà rốt thì chẳng phải bò kho. Cảm lạnh mà được một bát canh thịt nạc nấu với cà rốt, đậu hà lan thêm vài nhánh hành tươi, ăn khi còn nóng hổi thì thấy nhẹ cả người. Chả giò chấm nước mắm pha chua, cay, ngọt mà không có cà rốt thái sợi thì ăn mất ngon. Cà rốt cào nhỏ, thêm chút bơ ăn với bánh mì thịt nguội thì tuyệt trần đời...
Dù ăn cách nào, sống hay chín, cà rốt vẫn giữ được các chất bổ dưỡng. Đặc biệt khi nấu thì cà rốt ngọt, thơm hơn vì sức nóng làm tan màng bao bọc carotene, tăng chất này trong món ăn. Nhưng nấu chín quá thì một lượng lớn carotene bị phân hủy.
Cà rốt ăn sống là món ăn rất bổ dưỡng vì nhiều chất xơ mà lại ít calori. Cà rốt tươi có thể làm món rau trộn với các rau khác.
Cà rốt đông lạnh cũng tốt như cà rốt ăn sống hoặc nấu chín, chỉ có cà rốt phơi hay sấy khô là mất đi một ít beta carotene. Cà rốt ngâm giấm đường cũng là món ăn ưa thích của nhiều người.
Ăn nhiều cà rốt đưa đến tình trạng da có màu vàng như nghệ. Lý do là chất beta caroten không được chuyển hóa hết sang sinh tố A nên tồn trữ ở trên da, nhất là ở lòng bàn tay, bàn chân, sau vành tai. Tình trạng này không gây nguy hại gì và màu da sẽ trở lại bình thường sau khi bớt tiêu thụ cà rốt.
Nước vắt cà rốt là món thức uống tuyệt hảo.
Rửa sạch cà rốt với một bàn chải hơi cứng, đừng bỏ hết vỏ vì sinh tố và khoáng chất nằm ngay dưới vỏ. Sau khi ép, nên uống ngay để có hương vị tươi mát. Muốn để dành nước cà rốt, nên cho vào chai đậy kín để tránh oxy hóa rồi cất trong tủ lạnh. Nên lựa cà rốt lớn, chắc nịch với mầu vàng đậm hơn là loại vàng nhạt, để có nhiều caroten.
Có thể pha uống chung nước cốt cà rốt với nước trái cam, cà chua, dứa để tạo ra một hỗn hợp nước uống mang nhiều hương vị khác nhau.
Lá cà rốt cũng có thể ăn được, nhưng hơi đắng vì chứa nhiều kali. Lá có nhiều chất đạm, khoáng và sinh tố. Để bớt cay, trộn một chút giấm đường. Lá có tính cách sát trùng nên nước cốt lá cà rốt được thêm vào nước súc miệng để khử trùng.
Công dụng y học
Cà rốt chứa rất nhiều beta carotene, còn gọi là tiền- vitamin A, vì chất này được gan chuyển thành sinh tố A với sự trợ giúp của một lượng rất ít chất béo.
Trong 100 gr cà rốt có 12.000 microgram (mcg) caroten, có khả năng được chuyển hóa thành khoảng 6000mcg vitamin A trong cơ thể. Trong khi đó thì lượng caroten do 100gr khoai lang cung cấp là 6000 mcg, xoài là 1,200 mcg, đu đủ từ 1,200 đến 1,500 mcg, cà chua có 600mcg, bắp su có 300 mcg, cam có 50 mcg caroten...
Nhà dinh dưỡng uy tín Hoa Kỳ Roberta Roberti đã liệt kê một số công dụng của cà rốt đối với cơ thể như: làm tăng tính miễn dịch, nhất là ở người cao tuổi, giảm cháy nắng, giảm các triệu chứng khó chịu khi cai rượu, chống nhiễm trùng, chống viêm phổi, giảm bớt mụn trứng cá, tăng hồng huyết cầu, làm vết thương mau lành, giảm nguy cơ bệnh tim mạch
Bản hướng dẫn về dinh dưỡng của Bộ Canh Nông Hoa Kỳ vào năm 1995 có ghi nhận rằng ‘Các chất dinh dưỡng chống oxy hóa trong thực phẩm thực vật như sinh tố C, carotene, sinh tố A và khoáng selenium đều được các nhà khoa học thích thú nghiên cứu và quần chúng ưa dùng vì chúng có khả năng giảm thiểu rủi ro gây ra ung thư và các bệnh mãn tính khác’
Từ thời xa xưa ở Ấn Độ, Hy Lạp và La Mã, cà rốt, nước ép cà rốt, trà cà rốt đã được dùng để trị bệnh
1-Cà rốt với bệnh ung thư
Beta carotene có tác dụng chống ung thư trong thời kỳ sơ khởi, khi mà các gốc tự do tác động để biến các tế bào lành mạnh thành tế bào bệnh. Beta carotene là chất chống oxi hóa, ngăn chận tác động của gốc tự do, do đó có thể giảm nguy cơ gây ung thư phổi, nhiếp hộ tuyến, tụy tạng, vú và nhiều loại ung thư khác.
Theo nhà thảo mộc học J.L.Hartwell thì cà rốt được dùng trong y học dân gian tại một số địa phương rải rác trên thế giới như Bỉ, Chí Lợi, Anh, Đức, Nga, Mỹ... để trị các chứng ung thư, mụn loét có tính ung thư, chứng suy gan và suy tủy sống.
Kết quả nghiên cứu tại Anh và Đan Mạch cho hay chất Falcarinol trong cà rốt có thể giảm nguy cơ ung thư. Bác sĩ Kirsten Brandt, giáo sư tại Đại học Newcastle và là một thành viên của nhóm nghiên cứu cho hay, họ sẽ tiếp tục tìm hiểu coi phải dùng một số lượng là bao nhiêu để hóa chất này có tác dụng ngừa ung thư. Giáo sư Brandt cũng tiết lộ là vẫn ăn cà rốt mỗi ngày.
2-Cà rốt với ung thư phổi
Kết quả nghiên cứu của giáo sư dinh dưỡng Richard Baybutt và cộng sự tại Đại học Kansas, Hoa Kỳ, cho hay chất gây ung thư benzo(a)pyrene có thể gây ra thiếu sinh tố A trong cơ thể chuột và đưa tới bệnh emphysema. Ông kết luận rằng một chế độ dinh dưỡng có nhiều sinh tố A sẽ bảo vệ cơ thể đối với ung thư phổi và khí thũng phổi (emphysema).
4-Cà rốt với hệ tiêu hóa
Súp cà rốt rất tốt để hỗ trợ việc điều trị bệnh tiêu chẩy, đặc biệt là ở trẻ em. Súp bổ sung nước và các khoáng chất thất thoát vì tiêu chẩy như K, sodium, phosphor, calcium, magnesium..
Một số bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa nhận xét rằng cà rốt làm bớt táo bón, làm phân mềm và lớn hơn vì có nhiều chất xơ. Do công dụng này, cà rốt cũng có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột già
5-Cà rốt với thị giác
Cà rốt không ngăn ngừa hoặc chữa được cận thị hay viễn thị nhưng khi thiếu sinh tố A, mắt sẽ không nhìn rõ trong bóng tối. Cà rốt có nhiều beta caroten, tiền thân của sinh tố A. Ở võng mạc, sinh tố A biến đổi thành chất rhodopsin, mầu đỏ tía rất cần cho sự nhìn vào ban đêm. Ngoài ra, beta caroten còn là một chất chống oxy hóa rất mạnh có thể ngăn ngừa võng mạc thoái hóa và đục thủy tinh thể. Đây là hai trong nhiều nguy cơ đưa tới khuyết thị ở người cao tuổi.
Chúng ta chỉ cần ăn một củ cà rốt mỗi ngày là đủ sinh tố A để khỏi bị mù ban đêm.
Nhiều người còn cho là cà rốt với số lượng sinh tố A và Beta Carotene lớn còn có khả năng chữa và ngăn ngừa được các chứng viêm mắt, hột cườm mắt, thoái hóa võng mạc...
Một sự trùng hợp khá lạ là khi cắt đôi, củ cà rốt với các vòng tròn lan ra chung quanh trông giống như đồng tử (pupils) và mống mắt (iris). Như vậy phải chăng tạo hóa đã sắp đặt để con người nhận ra giá trị của cà rốt đối với cặp mắt...
6-Cà rốt với bệnh tim
Nghiên cứu tại Đại học Massachsetts với 13,000 người cao tuổi cho thấy nếu họ ăn một củ cà rốt mỗi ngày thì có thể giảm nguy cơ cơn suy tim tới 60%. Đó là nhờ có chất carotenoid trong cà rốt.
7-Cà rốt với cao cholesterol
Bác sĩ Peter Hoagland thuộc Bộ Canh Nông Hoa Kỳ cho hay chỉ ăn hai củ cà rốt mỗi ngày có thể hạ cholesterol xuống từ 10-20%.
Thí nghiệm bên Scotland cho thấy tiêu thụ 200 g cà rốt sống mỗi ngày, liên tục trong 3 tuần lễ, có thể hạ mức cholesterol xuống khoảng 11%.
Các nhà nghiên cứu tại Đài Loan cũng có cùng ý kiến.
8-Cà rốt với bệnh tiểu đường
Theo S Suzuki, S Kamura, tiêu thụ thực phẩm có nhiều carotenoid có thể làm giảm nguy cơ mắc tiểu đường loại 2 bằng cách tăng tác dụng của insulin.
9-Cà rốt với phụ nữ
Với phụ nữ, cà rốt có thể mang tới nhiều ích lợi như làm giảm kinh nguyệt quá nhiều, giảm triệu chứng khó chịu trước khi có kinh, bớt bị chứng viêm âm hộ và nhiễm trùng đường tiểu tiện nhất là giảm nguy cơ loãng xương sau thời kỳ mãn kinh.
Cà rốt trong đời sống
Các khoa học gia tại Đại học York bên Anh đã phân tách từ cà rốt một loại chất đạm đặc biệt có thể dùng để chế biến chất chống đông lạnh (antifreeze) . Nếu thành công, chất chống đông lạnh này sẽ rất hữu dụng ở trong phòng thí nghiệm để lưu trữ tế bào cho mục đích khoa học cũng như cho việc trồng thực vật khỏi bị đông giá.
Tại phòng thí nghiệm của Đại học Uwate, Nhật Bản, nhà nghiên cứu Hiroshi Taniguchi đã khám phá ra rằng, một vài loại rau như cà rốt ớt xanh, pumpkins...có thể được sử dụng để chế biến tia laser. Laser hiện nay dược dùng rất phổ biến trong mọi lãnh vực y khoa học.
Trong thế chiến II, phi cơ Đức quốc Xã thường oanh tạc Luân Đôn vào ban dêm để tránh bị phòng không Anh bắn hạ. Quân đội Anh lại mới sáng chế ra máy radar để tìm bắn máy bay địch vào ban đêm. Để dấu phát minh này, giới chức quân sự Anh nói rằng phi công của họ ăn nhiều cà rốt nên phát hiện được máy bay dịch rất rõ, ngày cũng như đêm. Quân đội Đức không tìm hiểu thêm vì tại nước họ cũng có nhiều người tin như vậy. Đây chỉ là một giai thoại mà thôi.
Lựa và Cất giữ cà rốt
Mua cà rốt, nên lựa những củ còn lá xanh tươi, củ phải chắc nịch, mầu tươi bóng và hình dáng gọn gàng, nhẵn nhụi. Cà rốt càng có đậm mầu cam là càng có nhiều beta caroten. Tránh mua cà rốt bị nứt, khô teo. Nếu cà rốt không còn lá, nhìn cuống coi có đen không. Nếu cuống đen là cà rốt quá già.
Vì đa số đường của cà rốt nằm trong lõi, nên củ càng to thì lõi cũng lớn hơn và ngọt hơn.
Cà rốt là loại rau khỏe mạnh, chịu đựng được điều kiện thời tiết khó khăn nên có thể để dành lâu hơn nếu biết cách cất giữ.
Trước hết là đừng để thất thoát độ ẩm của rau. Muốn vậy, cất cà rốt ở ngăn lạnh nhất của tủ lạnh, trong túi nhựa hoặc bọc bằng giấy lau tay. Đừng rửa trước khi cất tủ lạnh, vì cà rốt quá ướt trong túi sẽ mau bị hư. Chỉ rửa trước khi ăn. Cất như vậy có thể để dành được hơn hai tuần lễ.
Đừng để cà rốt gần táo, lê, khoai tây vì các trái này tiết ra hơi ethylene làm cà rốt trở nên đắng, mau hư.
Nếu cà rốt còn lá, nên cắt bỏ lá trước khi cất trong tủ lạnh, để tránh lá hút hết nước của củ và mau hư.
Trước khi ăn, rửa củ cà rốt với một bàn chải hơi cứng. Ngoại trừ khi cà rốt quá già hoặc e ngại nhiễm thuốc trừ sâu bọ, không cần gọt bỏ vỏ.
Cà rốt có thể làm đông lạnh để dành mà vẫn ngon.
Trước hết, phải trụng cà rốt trong nước sôi. Đây là cách để dành đông lạnh cho tất cả các loại rau. Trụng như vậy sẽ ngăn cản tác dụng làm mất hương vị, cấu trúc của thực phẩm.do các enzym có sẵn trong rau.
Sau khi trụng trong nước sôi độ mươi phút, lấy cà rốt ra, cho vào bao nhựa rồi để ngay vào ngăn đông đá.
Kết luận
Cà rốt là món ăn khá rẻ tiền so với lượng dinh dưỡng quý giá mà rau cung cấp. Nhiều người ít ăn cà rốt chỉ vì thiếu hiểu biết đầy đủ về giá trị dinh dưỡng của thực phẩm này. Mặt khác, tập quán ăn uống vốn được thành hình từ thói quen lâu ngày. Cà rốt là loại cây trồng mới được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ trước, nên đối với phần đông người Việt, nhất là những người ở xa thành phố, vẫn chưa quen thuộc với việc sử dụng cà rốt thường xuyên trong ngày.
Xin nhắc lại một số đặc tính của cà rốt:
-Cà rốt có hương vị thơm ngọt, có thể ăn chung với thực phẩm khác
-Cà rốt có thể ăn sống hoặc nấu chín
-Trẻ em rất thích ăn cà rốt vì hương vị nhẹ nhàng của cà rốt
-Cà rốt sống mang đi cắm trại hoặc ăn giữa ngày snack rất tiện
-Giá cà rốt tương đối rẻ, lại có sẵn quanh năm
-Cà rốt có nhiều sinh tố A, beta caroten, sinh tố A cần cho làn da, mắt, tóc, sự tăng trưởng và phòng chống bệnh nhiễm. Beta caroten có khả năng giảm thiểu các bệnh kinh niên như tim mạch, ung thư
-Cà rốt có nhiều chất xơ, giảm cholesterol và bệnh đường ruột
-Cà rốt cung cấp rất ít calori, nên ăn nhiều không sợ bị mập phì
Nếu biết tận dụng loại thực phẩm này với các đặc tính như trên, chắc chắn chúng ta sẽ nâng cao tình trạng sức khỏe cũng như phòng ngừa được hầu hết các bệnh do thiếu vitamin A.
http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=5608
Sống nhờ khổ qua, THẦN DƯỢC TRÁI KHỔ QUA
Cập nhật lúc 11:07:07 PM - 14/10/2006
Khổ qua (mướp đắng) là một loại cây thuộc họ bầu bí, có tính lạnh, vị đắng. Không nhựng không độc, khổ qua còn có tác dụng giải nhiệt, bổ thận, nhuận tỳ, thông tiểu, phù thũng do gan nóng, tiêu khát, bớt mệt mỏi, nhất là trong mùa nóng. Khổ qua đã được xem như một vị thuốc quý.
Khổ qua (mướp đắng) là một loại cây thuộc họ bầu bí, có tính lạnh, vị đắng. Không những không độc, khổ qua còn có tác dụng giải nhiệt, bổ thận, nhuận tỳ, thông tiểu, phù thũng do gan nóng, tiêu khát, bớt mệt mỏi, nhất là trong mùa nóng. Khổ qua đã được xem như một vị thuốc quý.
Cũng nhờ vậy, gần đây, ngoài chuyện chế biến (nấu canh, xào,...) để dùng trong các bữa ăn gia đình, khổ qua còn được sử dụng làm nước giải khát đóng lon, trà. Ở nhiều vùng, khổ qua đang được trồng trên diện rộng, trở thành loại cây đem lại thu nhập ổn định cho nông dân. Trong ảnh, sau khi thu hoạch, khổ qua được đóng vào sọt, chuẩn bị chuyển tới một nhà máy sản xuất trà túi lọc.
http://www.viendongdaily.com/Contents.aspx?contentid=1227&item=146
THẦN DƯỢC CỦ Nghệ vàng chống ung thư
- 6/6/2006 14h:33
Curcumin trong nghệ được coi là chất tiêu biểu nhất cho thế hệ các chất chống ung thư mới, vừa hiệu quả vừa an toàn. Nó ngăn sự phát triển của các tế bào ung thư mà không làm hại các tế bào lành khác.
Curcumin trong nghệ được coi là chất tiêu biểu nhất cho thế hệ các chất chống ung thư mới (Ảnh: news-medical)
Curcumin là hoạt chất chính của nghệ vàng, đã được công nhận là có độ tinh khiết cao, không chứa tác nhân độc hại. Nó là chất hủy diệt ung thư vào loại mạnh nhất theo cơ chế hủy diệt bước các tế bào ác tính.
Curcumin làm vô hiệu hóa tế bào ung thư và ngăn chặn hình thành các tế bào ung thư mới mà không làm ảnh hưởng đến các tế bào lành tính bên cạnh. Trong khi đó, nhiều thuốc khác khi diệt tế bào ác tính cũng diệt luôn cả tế bào lành, làm cho cơ thể suy kiệt, chán ăn, rụng tóc, buồn nôn; thậm chí nhiều bệnh nhân tử vong trước khi bệnh tiến triển tốt.
Curcumin có khả năng mạnh mẽ loại bỏ gốc tự do và các loại men gây ung thư có trong thức ăn, nước uống. Bởi thế, nó giúp cơ thể vừa phòng ngừa vừa chống ung thư một cách tích cực chứ không phải chỉ dùng khi chữa bệnh. Khả năng này của curcumin cũng rất cần cho người cao tuổi và người có thể trạng kém.
Curcumin có khả năng kháng nấm, kháng khuẩn rất cao. Nó có khả năng “chặt đứt” một trong các mắt xích của quá trình nhiễm HIV. Vì vậy, curcumin là một chất có triển vọng lớn trong điều trị viêm gan B, C, HIV với giá rẻ.
Ngoài ra, curcumin trong nghệ còn có khả năng giải độc và bảo vệ tế bào gan, làm tăng hồng cầu, hạ mỡ máu, xóa bỏ trứng cá, giúp chóng mọc tóc và giảm rụng tóc. Nó còn là chất chống viêm và chống ôxy hóa điển hình, có thể sử dụng như một corticoid trong điều trị bệnh mà không sợ gây loãng xương, không gây loét dạ dày.
Ở nhiều nước, nghệ vừa được coi là thuốc vừa được coi là thực phẩm. Hoạt chất của nó đã được hãng dược phẩm Sabina (Mỹ) dùng bào chế thuốc chữa trên 20 loại ung thư. Riêng đối với ung thư máu, curcumin mới chỉ giúp làm tăng hồng cầu và chống suy kiệt sức lực.
http://www.khoahoc.com.vn/view.asp?Cat_ID=6&Cat_Sub_ID=5&news_id=6044
Nấm hương - vị thuốc quý
Loại nấm này còn có tên là đông cô. Ở Trung Quốc và Nhật Bản, nó được dùng như một vị thuốc quý từ hàng nghìn năm nay do có tác dụng tăng cường khí lực, kích thích ăn uống, điều hòa khí huyết.
Người Trung Quốc gọi nấm hương là Dong-Gu (phiên âm tiếng việt thành đông cô), người Nhật gọi Shiitake. Nấm này có tên khoa học là Lentinula Edodes, thuộc họ Pleurotaceae.
Nấm hương có dạng như cái ô, đường kính 4-10 cm, màu nâu nhạt, khi chín chuyển thành nâu sậm. Trên mặt nấm có những vảy nhỏ màu trắng. Thịt nấm màu trắng, cuống hình trụ. Nấm mọc ký sinh trên những cây có lá to và thay lá mỗi mùa như dẻ, sồi, phong. Loài thực vật này mọc hoang nhiều ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Ở Mỹ, nông dân trồng nấm hương tại các trang trại. Mỗi khúc gỗ có thể cho nấm ký sinh 3-7 năm.
Nấm hương chứa khá nhiều đạm và đặc biệt giàu khoáng chất, vitamin, chẳng hạn như vitamin C, B, tiền vitamin D, canxi, Niacin, nhôm, sắt, magiê... Nó có khoảng 30 enzym và tất cả các acid amin tối cần cho cơ thể (tức là những acid amin mà cơ thể không tổng hợp được). Nấm cũng có một số alcool hữu cơ mà khi nấu chín, các alcool này biến đổi, tạo thành mùi thơm đặc biệt của nó.
Các nhà khoa học đã chiết xuất được chất lentinan và Lentinula Edodes mycelium (LEM) từ nấm hương. Đây là 2 chất chính tạo nên tác dụng dược lý của loại nấm này. Một nghiên cứu tại Nhật cho thấy, những bệnh nhân ung thư đang hóa trị nếu dùng thêm Lentinan thì hiệu quả hóa trị sẽ tăng lên, khả năng sống sót cao hơn và sự tiến triển của ung thư sẽ bị kìm hãm. Vì vậy ở Nhật, Lentinan đã được chấp nhận như một liệu pháp phụ trợ trong tiến trình dùng hóa trị liệu.
Lentinan đã được chứng minh là có khả năng kích thích các tế bào của hệ miễn dịch (như tế bào lympho ở máu ngoại vi) làm tăng sức đề kháng. Nó cũng kích thích các “tế bào sát thủ tự nhiên” trong cơ thể để chúng tấn công những tế bào ung thư.
Theo một nghiên cứu khác, nấm hương chứa chất Eritadenin, có tác dụng làm hạ cholesterol bằng cách làm tăng sự thoái biến cholesterol trong gan. Loại nấm này còn làm giảm tác dụng tăng cholesterol của chất béo và giúp hạ huyết áp.
Các nhà khoa học Nhật cũng đã tiến hành những nghiên cứu về tác dụng chống virus của nấm hương. Kết quả là chất LEM trong loài thực vật này giúp tạo ra kháng thể chống virus viêm gan B. Trong số 40 bệnh nhân viêm gan B mạn tính đã được uống LEM 6 g/ngày trong 4 tháng, tất cả đều giảm triệu chứng viêm gan, có 15 người hết sạch virus B. Chất LEM còn làm chậm sự tiến triển của ung thư gan, bảo vệ tế bào gan.
Các thử nghiệm cũng cho thấy, chất Lentinan đơn độc không có tác dụng gì đối với HIV, nhưng nếu phối hợp với AZT thì tác dụng diệt virus tăng lên 24 lần so với dùng AZT đơn độc.
Lentinan còn có khả năng giúp những người bị lao phổi chống lại độc tố của vi khuẩn lao. Nếu sử dụng Lentinan 1 g/ngày, mỗi tuần 2 lần thì tỷ lệ opsonin trong máu rất cao, có thể ngăn chặn hoàn toàn độc tố của vi khuẩn lao trong cơ thể.
Ở Trung Quốc, nấm hương đã được sử dụng từ rất lâu đời để chữa một số bệnh như bí tiểu, phù thũng, ngộ độc do các loại nấm khác (dùng 90 g nấm khô nấu chín để ăn). Trẻ em bị sởi và đậu mùa có thể dùng 6 g nấm khô nấu chín và ăn ngày 2 lần.
Nấm hương còn được dùng làm thực phẩm và thuốc rất phổ biến tại Nhật. Theo y học cổ truyền của nước này, nấm hương có tác dụng chống oxy hóa, giúp chống lão hóa tế bào, tăng cường sức lực, giảm mệt mỏi ở những người làm việc quá căng thẳng. Liều dùng tốt nhất là 6-16 g nấm khô hoặc 90 g nấm tươi.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống
http://www.ykhoanet.com/d_duong/05_0088.htm

Làm được điều không thể: Mọc lại ngón tay bị cắt cụt - 24/2/2007 8h:43
Một người đàn ông 68 tuổi ở Mỹ có ngón tay bị đứt lìa một lóng (đốt) ngón tay. Các nhà khoa học Mỹ đã khiến cho chỗ ngón tay bị đứt mọc trở lại. Đó là nhờ một chất tổng hợp có thể tái tạo mô và xương. Đây là bước đi đầu tiên của y học hiện đại nhằm giúp cho con người có khả năng mọc lại tay, chân nếu chẳng may họ bị tai nạn làm cụt tay, chân.
Câu chuyện trên đây nghe giống như là chuyện viễn tưởng trong những ngày đầu năm 2007 này. Thế nhưng, chuyện khá xác thực...
Trong những ngày gần đây, các hãng tin lớn trên thế giới như AP, ABC, CNN… đã đồng loạt đưa tin về cuộc thử nghiệm chưa từng có từ trước đến nay. Đó là tái tạo các ngón tay bị cụt bằng một chất chiết xuất từ bàng quang heo. Chất này do một công ty công nghệ sinh học có tên là Acell Inc., bào chế.
Bộ Quốc phòng Mỹ ngay lập tức chú ý đến phát minh này. Viện Nghiên cứu Phẫu thuật Quân y Hoa kỳ ở Fort Sam Houston, San Antonio đã có kế hoạch thử nghiệm chất tái tạo kỳ diệu nói trên. 5 binh sĩ bị thương trong cuộc chiến ở Iraq sẽ là những người đầu tiên được thử nghiệm...
Một lóng ngón tay bị cắt cụt, mọc lại... bình thường!
Mọi chuyện bắt đầu từ khi ông ông Lee Spievack, 68 tuổi ở Cincinnati, Mỹ do bất cẩn mà bị cánh quạt động cơ cắt đứt phần đầu của ngón tay giữa khi đang làm việc vào tháng 8/2005. Do không thể tìm thấy đoạn đã bị chặt đứt để nối lại vào ngón tay, các chuyên gia về phẫu thuật ngón đành khuyên ông Lee nên ghép da để giúp vết thương mau lành.
Ngón tay của ông Lee Spievack bị cánh quạt động cơ cắt cụt
vào tháng 8/2005 (Ảnh: ost-gazette)
Nhưng ông Lee đã gặp may...
Ông có người anh là tiến sĩ Alan Spievack, nhà sáng lập Acell Inc. – công ty sinh học đã bào chế chất tái tạo mô nói trên. Tiến sĩ Alan đã khuyên ông Lee khoan nghĩ đến chuyện ghép da mà hãy sử dụng thử chất tái tạo mô này. Theo hướng dẫn của tiến sĩ Spievack, ông Lee đã đắp chất tái tạo mô lên vết thương 2 ngày một lần.
Và điều kỳ diệu đã đến... Chỉ sau 4 tuần điều trị bằng cách đắp chất tái tạo mô nói trên, ngón tay bị cụt đã phát triển trở lại bằng với kích thước nguyên thủy của nó. Và, 4 tháng tiếp sau đó, ngón này đã trông giống như những ngón tay khác, có đầy đủ các mô lành mạnh và có cả... móng nữa!
Ông Lee kể lại, ngón tay đó hiện bình thường như những ngón khác. Chỉ có một vết sẹo mờ mà thôi! Móng tay ở ngón đó phát triển nhanh gấp đôi so với móng ở những ngón còn lại. Ông còn nói: "... Nhưng điều làm tôi có ấn tượng mạnh nhất là khi thời tiết giá lạnh, ngón được tái tạo không bị hề hấn gì, trong khi các ngón khác đều bị nứt da!”.
Và ngón tay đã được... mọc trở lại (phải) sau khi được điều trị bằng chất
chiết xuất từ bàng quang heo, ảnh phải được chụp ngày 4/2/2007. (Ảnh: ost-gazette)
Về trường hợp của ông Lee, tiến sĩ Badylak, một chuyên gia về tái tạo y học của trường Đại học Pittsburgh, nói: “Chỉ khi dưới 2 tuổi, con người mới có khả năng tái tạo đầu ngón tay như trong trường hợp của ông Lee Spievack. Ở người trưởng thành, điều đó thật sự rất hiếm xảy ra”.
Theo TS Badylak, các nhà khoa học vẫn chưa hoàn toàn biết rõ điều gì thực sự đã xảy ra trong ngón tay của Lee Spievack. Bản thân tiến sĩ Badylak cũng đã từng phát hiện một trường hợp hiếm có. Trong thập niên 80, ông đã dùng một đoạn ruột non của một con chó để tạo nên động mạch chủ tạm thời cho tim của chính con chó đó.
Chất tái tạo mô chiết xuất từ bàng quang heo. (Ảnh: Acell Inc.)
Nhiều tháng sau, một cuộc kiểm tra đã cho thấy phần ruột được ghép đã phát triển thành một mạch máu trông rất giống động mạch chủ. Thật lạ lùng, bằng 1 cách nào đó, đoạn ruột đã tự tái cấu trúc bản thân nó để có một cấu trúc giống như động mạch chủ. Chỉ có một vòng sẹo nhỏ ở mối nối mà thôi. Ông nói: “Từ đó đến nay, chúng tôi đã bỏ ra 20 năm để tìm hiểu về vấn đề này”.
Mở rộng thử nghiệm chất tái tạo mô
Ngay sau trường hợp của ông Lee, Bộ Quốc phòng Mỹ đã vào cuộc. Thuộc một dự án do chính phủ liên bang tài trợ, cuộc thử nghiệm tái tạo ngón bằng một chất dạng bột được chiết xuất từ bàng quang heo sẽ được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Phẫu thuật Quân y Hoa kỳ ở Fort Sam Houston, San Antonio.
Theo kế hoạch, năm binh sĩ Mỹ có ngón tay bị cụt ở Iraq sẽ là những người đầu tiên được thử nghiệm. Nếu thành công thì những kế hoạch lớn hơn, như tái tạo cả bàn tay, bàn chân, và thậm chí là cả cánh tay hoặc chân…, sẽ được triển khai.
Theo TS. Stephen Badylak, cố vấn khoa học của Acell Inc. và là thành viên của dự án nói trên, chất tái tạo mô là một sản phẩm của công ty sinh học Acell Inc.. Chất này có công dụng làm lành vết thương và tái tạo mô động vật, chẳng hạn như giúp ngựa tái tạo các dây chằng. Chất này cũng đã được chính phủ Mỹ cho phép sử dụng trên con người.
TS. Stephen Badylak, chuyên gia về tái tạo y học của trường Đại học Pittsburgh và là cố vấn khoa học của Acell Inc. (Ảnh: Acell Inc.,)
Chất này có chứa rất nhiều collagen, một hợp chất cao phân tử phức tạp, có khả năng kích hoạt các tiến trình sinh học tiềm tàng để làm lành vết thương, thúc đẩy sự phân chia tế bào, tái tạo mô và xương. Ở con người, collagen chiếm đến 75% trong cấu trúc da.
Trong cuộc thử nghiệm sắp tới, các nhà phẫu thuật sẽ mở lớp da ở phần ngón tay bị mất và đắp thuốc vào đó mỗi tuần 3 lần trong ít nhất 2 tuần lễ.
Các bác sĩ sẽ theo dõi sự hình thành các mô mới cũng như phát hiện những biến chứng, nếu có. Trong trường hợp ngón tay được tái tạo tốt, các chuyên gia sẽ kiểm tra độ nhạy cảm, chức năng vận động, và cả mức độ tăng trưởng xương của ngón tay, nếu có.
Nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp với 5 binh sĩ nói trên, các bác sĩ sẽ điều trị tiếp cho 5 binh sĩ nữa, rồi sau đó sẽ đánh giá toàn bộ kết quả thử nghiệm. Nhóm nghiên cứu dự án hy vọng rằng họ sẽ thu được kết quả cụ thể trong vòng 2 tháng kể từ khi bắt đầu thử nghiệm.
Làm “mọc” lại cơ phận bị mất ở người: Bước đi đầu tiên của y học hiện đại
Tuy nhiên, không ai có thể bảo đảm rằng các ngón bị cụt có thể phát triển trở lại thành những ngón hoàn chỉnh, có khớp, có lóng và có móng.
Nhóm nghiên cứu chỉ mong các ngón bị cụt sẽ phát triển dài thêm ra, dù không được 1 inch (2,54 cm), nhưng có đủ mạch máu và dây thần kinh, để các binh sĩ có thể cầm nắm được 1 số vật dụng.
Các chuyên gia y học đang hy vọng con người có khả năng kỳ diệu như con kỳ nhông:
Tái tạo các bộ phận cơ thể đã bị mất. (Ảnh: ost-gazette)
Ông David Baer, Giám đốc Chương trình mô mềm và xương của Viện Y học tái tạo ở Mỹ và cũng là một thành viên của dự án này, phát biểu: “Mặc dù mất vài ngón tay thì không nặng nề như mất một cánh tay hoặc một chân, nhưng nếu bạn không thể nắm được đồ vật, không thể cầm được một cây bút hay bàn chải đánh răng, thì bạn vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày”.
Về cuộc thử nghiệm sắp tới, ông nói: “Chúng tôi ao ước sẽ nhìn thấy xương ngón tay mọc lại, nhưng chưa thể biết trước được”.
Tiến sĩ Alan Spievack, nhà sáng lập Acell Inc (Ảnh: Acell Inc.)
Hiện nay, tất cả chuyên gia tham gia dự án đang hy vọng một điều kỳ diệu sẽ xảy ra như trường hợp của ông Lee.
Từ bao đời nay, khả năng tạo lại các bộ phận cơ thể bị mất trong quá trình sống của 1 số loài động vật như kỳ nhông, sao biển và hươu đã làm say mê biết bao nhà khoa học. Cắt bỏ một chân của con kỳ nhông thì một cái chân mới sẽ mọc ra chỉ sau vài tuần lễ! Một con hươu rụng gạc hàng năm và một bộ gạc mới toanh được sinh ra để thay thế.
Thế nhưng, ở con người và hầu hết các sinh vật phức tạp khác, việc tái tạo các bộ phận đã mất hầu như không thể xảy ra, mà chỉ có việc tự làm lành vết thương mà thôi. Hơn nữa, những vết thương nghiêm trọng khi lành sẽ để lại các mô sẹo không còn đầy đủ chức năng như các mô bình thường.
Vì thế, nghiên cứu về tái tạo ngón là một trong những loại nghiên cứu phức tạp nhất và khó thành công nhất.
Tuy nhiên, trong nhiều thập niên qua, các nhà khoa học đã đạt được nhiều tiến bộ trong lĩnh vực y học tái tạo. Với chất tái tạo mô do công ty Acell Inc. bào chế, các chuyên gia Mỹ đang hy vọng vén bức màn bí mật về khả năng tái sinh của các bộ phận cơ thể người trong cuộc thử nghiệm sắp tới.
Quang Thịnh
http://www.khoahoc.com.vn/view.asp?Cat_ID=6&Cat_Sub_ID=5&news_id=12893
TOA TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG- HOA-ĐÀ TIÊN-ÔNG
Thời tiết thường thường thay đổi theo bốn mùa,bệnh lý cũng phải phân biệt theo bốn mùa.Sự tuần hoàn của huyết dịch trong cơ thể cũng tuỳ theo bốn mùa mà chuyển dịch.Cho nên sự trị liệu bệnh tật cũng phải phối hợp với 4 mùa thì mới đạt hiệu quả tốt.
1)Trị Liệu Bệnh Tiểu Đường Vào Mùa Xuân:
Bài Thuốc:
Hột đu đủ, 100 hột
Hột long nhản, 50 hột, giã nát
Hột trái vải, 50 hột, giã nát
Cách Dùng:
Cho tất cả vào nồi với 4 chén nước và nấu lên cho 10 phút, thêm vào một chút xíu muối
Thời Gian Uống:
Chiều 5 giờ uống 1 chén.Tối 11 giờ lại uống thêm 1 chén nữa
Uống liên tục 10 ngày, đi Bác Sĩ khám lại xem độ đường trong máu có giảm không? Nếu thấy tốt, ngưng 10 ngày, sau đó lại tiếp tục uống thêm 10 ngày nữa thì khỏi bệnh.
2)Trị Liệu Bệnh Tiểu Đường Vào Mùa Hạ:
Bài Thuốc:
Hột khế, 30 hột
Hột quít, 30 hột
Hột trái vải, 30 hột
Cách Dùng:
Ba thứ hột trên đem giã nát rồi cho vào nồi với 4 chén nứơc và nấu lên cho sôi trong 10 phút, thêm vào một chút muối.
Thời gian uống:
4 giờ rưởi chiều uống 1 chén.Tối 10 giờ uống 1 chén.
Uống liên tục trong 10 ngày.Ngưng uống, đi khám nghiệm xem có bớt không? Nếu thấy tốt, ngưng 10 ngày rồi lại tiếp tục uống thêm 10 ngày nữa
3)Trị Liệu Bệnh Tiểu Đường Vào Mùa Thu:
Bài Thuốc:
Vỏ quít, 3 cái
Cà rốt, 3 củ
Hột long nhãn, 50 hột, giã nát
Cách Dùng:
Cà rốt rửa sạch để nguyên vỏ, xắt lát. Cho tất cả 3 thứ vào nồi với 5 chén nước và nấu sôi lên 10 phút, thêm vào một chút muối.
Thời gian uống: 5 giờ chiều uống 1 chén, Tối 11 giờ uống 1 chén
Uống liên tục trong 10 ngày.Ngưng uống, đi khám nghiệm xem có bớt không? Nếu thấy tốt, ngưng 10 ngày rồi lại tiếp tục uống thêm 10 ngày nữa thì khỏi bệnh.
4) Trị Liệu Bệnh Tiểu Đường Vào Mùa Đông:
Bài Thuốc:
Hột khổ hoa, 30 hột
Hột quít, 30 hột
Hột khế, 30 hột
Cách Dùng:
Ba thứ hột trên đem giã nát rồi cho vào nồi với 4 chén nứơc và nấu lên cho sôi trong 10 phút, thêm vào một chút muối
Thời gian uống: 5 giờ chiều uống 1 chén, Tối 11 giờ uống 1 chén
Uống liên tục trong 10 ngày.Ngưng uống, đi khám nghiệm xem có bớt không? Nếu thấy tốt, ngưng 10 ngày rồi lại tiếp tục uống thêm 10 ngày nữa thì khỏi bệnh.
Chú ý: Người bệnh tiểu đường không được ăn trái Lê. trái Quít, trái Cam, trái Cà tomate và những gì có chất đường
Toa Thuốc Trị Cao Huyết Áp
1. Đào nhân 1 chỉ
2. Hạnh nhân 4 chỉ
3. Chi tử 2chỉ
4. Tiêu sọ nam 7 hột, nữ 9 hột
5. Nếp nam 7 hột, nữ 9 hột
6. Hột gà lấy trồng đỏ
Tất cả tán nhuyễn hòa chung, đổ ra miếng vải bó vào lòng bàn chân lúc buổi tối trước khi đi ngủ, bó đúng 8 tiếng mở ra bỏ
Cách bó: Nam tả, Nữ hữu bó dưới lòng bàn chân
Đặc biệt: Thuốc nầy chỉ bó 1 lần duy nhất là hết bệnh, nếu sau nầy có lên máu nữa thì bó lại lần 2, trường hợp nầy ít xảy ra, thường thì chỉ bó 1 lần là đã kết quả.
Ghi nhớ: Lúc tháo thuốc ra thấy lòng bàn chân có màu tím là tốt
Ngoài ra: Dùng lá Xoài hơi già xắt nhỏ phơi héo sơ, nấu nước uống như nước trà uống 3 ngày ngưng một ngày uống tiếp rất công hiệu.
(Yêu cầu nên phổ biến cho những ai giúp người tạo phúc, đừng chỉ cho những kẻ làm tiền)
Toa Thuốc trị: Ung thư gan, ruột, dạ dầy, tử cung,vú , não, nhức đầu, mất ngủ, nhức mỏi xương cốt, áp huyết cao, ho, nóng
Ban Liên Chi 37,5g
Bách Hoa Xà Thiệt Thảo 75g
Cách làm: sắc 2 nước
Nước nhứt 3 chén con 8 phân
Nước Nhì 2 chén rưởi còn 7 phân
Cách dùng: để nguội uống, uống trước bữa ăn 1 hay 2 giờ
Có thể nấu nhiều nước uống thay trà
Kiên kỵ: không được uống rượu, khi uống thuốc
Nếu ung thư ngoài da, uống thuốc lấy xác đắp
Lưu ý: Sau khi uống thuốc sẽ đi đại tiện, tiểu tiện nhiều thải ra chất vôi và mủ theo phân
(Yêu cầu nên phổ biến cho những ai giúp người tạo phúc, đừng chỉ cho những kẻ làm tiền)
Toa Thuốc trị: Nhức Mỏi, Đau Lưng, Bớt Cảm Cúm
Vật liệu:
* Gừng: 2 ký
* Rưọu: 3 lít
Cách làm: Mua gừng về các bạn không cần gọt vỏ, chỉ rửa cho thật sạch. Sau đó giã nát rồi ngâm vào rượu. Khoảng một tuần là dùng được.
Cách dùng: Các bạn thoa vào tay, chân, lưng, bụng, cằm . Thoa vào giờ nào cũng được và mấy lần trong ngày cũng chẳng tác hại gì. Thoa càng nhiều hiệu quả càng nhanh.
Ghi chú: Các bạn phải kiên trì và nhẫn nại, không phải ngày một, ngày hai mà được.
Chất nóng của gừng và rượu se làm cho ta bớt nhức mỏi, đau lưng, bớt cảm cúm và nhất sẽ làm tan đi chướng ngại vật trên cơ thể của ta. Các bạn hãy mạnh dạn đừng ngại ngùng gì cả mình đã dùng qua rồi và vô cùng hiệu quả. Sau khi đã có kết quả rồi bạn vẫn cứ dùng để giữ quân bình cho vóc dáng.
Chúc các bạn mau sớm toại nguyện.
Hải Lộc
Bài thuốc trị bệnh gan B.
Trà Lipton 1 gói.
- 200 gram đường cát hoặc 200 gram đưòng phèn.
- Con dấm nuôi
- 1 lít nưóc
- một cái keo bằng sành hay bằng thủy tinh. (không đưọc dung keo bằng nhựa)
Nấu nưóc sôi, đổ nưóc sôi vào keo, sau đó đổ đưòng vô quậy cho tan đưòng, sau đó để trà vô, chờ cho ra trà.Để cho nưóc trà còn hơi ấm (đừng để nguội). Vớt trà ra, cho con dấm (con dấm nuôi) vào. Để từ 12 đến 14 ngày. Nêm thấy chua là có thể uống được.
Mỗi ngày uống 2 lần sang và tối, mỗi lần 1 ly xây chừng. (ly cà phê).
Bài thuốc trị ung thư ruột già.
- 1 trái cam, gọt bỏ vỏ the.
- 1 Lá nha đam. gọt bỏ gai.
- Bỏ 2 thứ vào máy xay sinh tố, xay cho nhuyển.
- Lược lấy nước, bỏ vào một chút xíu muối.
Sáng uống một trái cam, chiếu uống một trái cam.
Bài thuốc trị bệnh gan.
- Cây chó đẻ.
- Cây chồi mồi, vạt ra sao khử thổ.
Bỏ hai thứ váo nồi nấu nước uống liên tục trong 2 tháng.
HAHTNCTTGVN
http://www.vprpfa.org/modules.php?name=News&op=viewst&sid=150
Ăn Chay hay Ăn Mặn
Ăn chay (còn được gọi là ăn lạt) không phải là vấn đề mới mẻ gì đối với người VN mình. Ngược lại, các dân tộc Tây phương, từ vài chục năm nay đã xem việc không ăn thịt, không ăn cá là một phương pháp dưỡng sinh mới để duy trì một sức khỏe tốt. Trong bài viết nầy vấn đề ăn chay được trình bày qua cái nhìn của khoa học dinh dưỡng. Các lý do khác, như tôn giáo, tín ngưỡng, bảo vệ súc vật bảo vệ môi sinh và sinh thái đều nằm ngoài khả năng hiểu biết của người viết.
ĂN CHAY CŨNG CÓ LẮM KIỂU
Thường thì ăn chay có nghĩa là không ăn thịt và cá cũng như bất cứ sản phẩm nào xuất phát từ loài vật. Nếu uống sữa và ăn những sản phẩm được làm từ sữa thì gọi là lacto vegetarian... Không uống sữa nhưng lại ăn hột gà, đó là ovo vegetarian...Còn vừa dùng cả sữa lẫn hột gà thì người ta gọi là ovo lacto vegetarian... Những ai ăn chay trường một cách khắc khe thuần túy là những vegan (tiếng Anh) hay végétalien (tiếng Pháp)... Kiểu ăn chay nửa vời hay ăn uyễn (semi vegetarian) thì không ăn thịt đỏ (thịt heo, bò, dê, cừu) nhưng lại dùng thịt trắng (thịt gà, gà Tây), cá, trứng gà và sữa...Dễ nhất là ăn chay kiểu tài tử, nghĩa là bỏ bớt thịt cá, ăn nhiều rau đậu, tàu hũ và lúc nào cảm thấy cần, lúc nào thèm, lúc nào nhớ thì ăn cũng như nếu cuối tuần phải tiệc tùng, party liên miên, đám cưới đám giỗ lu bù, ăn nhiều thịt nhiều dầu mỡ quá, thì bù lại thứ hai hoặc thứ ba nên ăn chay để giúp cơ thể nghỉ xả hơi đôi chút trong 1-2 ngày...Đây là lối ăn đổi món, giúp cơ thể nghỉ ngơi, bớt dầu bớt mỡ. Ăn thịt hoài cũng ngán, lâu lâu đổi bữa, ăn chay lạ miệng cũng thấy ngon!
ĂN CHAY CÓ ÍCH LỢI GÌ?
Một chế độ ăn chay được chuẩn bị kỹ lưỡng dựa trên cơ sở dinh dưỡng quân bình sẽ giúp cho chúng ta có một sức khỏe tốt. Các nhà khoa học đều cho biết là nhờ không ăn thịt, không ăn cá nên số lượng chất béo bão hòa (saturated fat), là loại chất béo xấu tiêu thụ cũng giảm bớt đi...Chất béo bão hòa có khuynh hướng kích thích gan sản xuất thêm cholesterol và làm tăng hàm lượng của chất nầy trong máu lên cao. Hậu quả là làm xơ cứng động mạch, làm nghẽn mạch vành của tim, gây đau thắt ngực, tăng nguy cơ đột quỵ tim, tăng áp huyết động mạch và có thể dẫn đến tai biến mạch máu não! Thực phẩm chay thường dùng đều có nguồn gốc thực vật nên chứa nhiều chất xơ nhưng chứa rất ít chất béo bão hòa. Tuy nhiên có 2 loại dầu thực vật cần nên để ý vì chúng có chứa một tỷ lệ chất béo bão hòa thật cao, đó là dầu dừa (kể cả nước cốt dừa) và dầu cọ (palm oil). Ngoài việc ngừa được các bệnh về tim mạch và giúp giảm phần nào áp huyết động mạch, người ăn chay ít mắc phải những bệnh mãn tính, cũng như ít bị hiện tượng kết tụ sỏi sạn trong thận và trong túi mật. Việc ăn chay còn có thể làm giảm nguy cơ xuất hiện của một số bệnh ung thư, như cancer ruột già, cancer vú và cancer tiền liệt tuyến (prostate). Năm 2002, tập chí Metabolism có đăng bài khảo cứu của G.s David Jenkins về vấn đề ăn chay. Thí nghiệm đã được thực hiện tại đại học Toronto và bệnh viện St Michael’s ở Canada. Kết quả cho biết, việc ăn chay có thể làm giảm hàm lượng cholesterol xấu (LDL) trong máu xuống 29%. Hạt hạnh nhân (almond) là một loại thức ăn rất tốt để kéo cholesterol xuống một cách thật đáng kể. Thực phẩm chay chứa nhiều chất xơ, ít chất béo, ít calories nên giúp người ăn chay ít hay bị táo bón và ít bị bị béo phì hơn những người ăn mặn... Đối với bệnh tiểu đường loại II, là loại bệnh rất phổ biến và thường xảy ra ở những người trên 40-50 tuổi, chế độ ăn chay có thể rất có ích cho họ để ổn định phần nào đường lượng máu! Đại học North Calorina Hoa Kỳ cho biết một chế độ dinh dưỡng gồm nhiều rau đậu và trái cây tươi, cộng thêm việc năng vận động và tập thể dục thường xuyên là những nhân tố cần thiết để làm giảm nguy cơ xuất hiện bệnh chứng loãng xương (osteoporosis) ở phụ nữ. Ngoài những sự ích lợi vừa kể thì rau quả, ngũ cốc cũng như các loại hạt còn chứa nhiều vitamins và các chất chống oxyt hóa (antioxydants) như vitamin E, vitamin C và chất bêta caroten. Các chất nầy thanh lọc bớt chất bẩn trong tế bào và giúp chúng hoạt động một cách hữu hiệu hơn. Các nhà khoa học đều nghĩ rằng các chất antioxydants đã dự phần quan trọng trong việc làm giảm nguy cơ xuất hiện của một vài loại bệnh ung thư! Gần đây, tập chí y học British Medical Journal có đăng kết quả khảo cứu về mối liên hệ giữa việc ăn chay và sự thông minh của 8000 người tình nguyện tại University of Southampton trong vòng 20 năm. Họ đo chỉ số thông minh IQ của các em nhỏ lúc 10 tuổi, sau đó là đo lại IQ lúc được 30 tuổi. Tờ báo nầy nói rằng những người theo chế độ ăn chay từ nhiều năm và đồng thời cũng có uống hoặc dùng sản phẩm làm từ sữa thì đến lúc 30 tuổi họ có chỉ số thông minh IQ là 105, tức là cao hơn gần 5 điểm so với IQ của những người ăn mặn!
ĂN CHAY PHẢI CHO ĐÚNG CÁCH
Nguyên tắc chính là phải có sự quân bình giữa các chất dinh dưỡng. Để tránh tình trạng thiếu chất bổ, người ăn chay phải biết cách phối hợp nhiều loại thức ăn lại với nhau. Tùy theo lối ăn chay của mỗi người mà có cần nên uống thêm sữa hoặc các loại supplements như Calcium, vitamin D, vitamin B12 hoặc chất sắt (Fe) hay không. Nên quan tâm đặc biệt đến các chất dinh dưỡng sau đây:
PROTEIN: Chất đạm giúp tạo lập tế bào, mô, hormones, enzyms, và các chất kháng thể. Proteins có được là do sự kết hợp của nhiều chuỗi amino acids...Có tất cả 20 amino acids, phần lớn đều do cơ thể sản xuất ra. Phần còn lại, gồm 9 amino acids cơ thể không tạo được mà phải nhờ thực phẩm đem vào từ bên ngoài. Người ta gọi 9 amino acids nầy là những amino acids thiết yếu (essential amino acids). Chúng rất cần thiết trong việc tổng hợp Protein. Thịt được gọi là protein trọn vẹn (complete protein) vì có chứa hầu như đầy đủ các amino acids thiết yếu. Ngoài thịt ra, trứng (lòng trắng) và sữa đều là nguồn Protein rất tốt...Thực phẩm gốc thực vật vì thường thiếu một hay nhiều amino acids thiết yếu nên được xem là protein không trọn vẹn (incomplete protein) kém chất lượng hơn Protein gốc động vật. Tùy theo loại thực phẩm mà thành phần và số lượng amino acids thiết yếu chứa đựng sẽ khác nhau. Ngũ cốc, đậu (đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh, đậu nành, đậu lentils, đậu Lima, đậu peas, v.v…) và các loại hạt, như hạt dẻ (nut), hạt hạnh nhân (almond) đều có chứa chất đạm Protein. Trong chế độ ăn chay, việc kết hợp nhiều loại thức ăn lại với nhau là điều rất cần thiết và mới mong có đủ số amino acids thiết yếu để có thể tổng hợp được Protein trọn vẹn!
KẼM (Zn): Giúp vào việc tăng trưởng và tái tạo tế bào...Kẽm cũng rất có ích trong tiến trình làm lành các vết thương. Thịt là nguồn cung cấp kẽm tốt nhất, kế đến là sữa bò và lòng đỏ hột gà. Các thực phẩm có nguồn gốc thực vật sau đây đều có chứa chất kẽm: rau đậu, các hạt thô (tức là chưa kinh qua quá trình chà xát làm cho trắng cho nhuyễn), mọng lúa mì, bắp cải, carotte, củ cải đỏ, hạt hạnh nhân, v.v… Kẽm từ nguồn thực phẩm gốc động vật dễ được hấp thụ hơn kẽm từ nguồn gốc thực vật. Người ăn chay cần phải ăn nhiều rau quả mới mong thỏa mãn đủ nhu cầu về chất kẽm!
SẮT (Fe): Rất cần thiết cho hồng huyết cầu để chuyển vận oxy đến các mô...Muốn thỏa mãn đủ nhu cầu về chất sắt, người ăn chay cần ăn thật nhiều rau cải có lá xanh đậm, nhiều đậu, mọng lúa mì (wheat germ), các loại bánh mì làm từ hạt thô (wholemeal bread), hạt dẻ, hạt hạnh nhân, v.v… Để giúp chất sắt được hấp thụ một cách dễ dàng, cần nên ăn thêm các loại thức ăn có chứa nhiều vitamin C như cam, quít, bưởi. Tránh uống chung với nước trà và café vì 2 chất nầy ngăn trở việc hấp thụ của chất sắt...Ở thực phẩm gốc động vật thí dụ như thịt bò và gan đều có chứa rất nhiều chất sắt. Chất sắt ở nguồn gốc động vật được cơ thể hấp thụ dễ dàng hơn chất sắt nguồn gốc thực vật!
VITAMIN B 12 (cyanocobalamin): cần trong việc tạo lập hồng huyết cầu, có ích cho tủy xương, giúp tế bào phân cắt và tăng trưởng cũng như bảo vệ bao myelin của dây thần kinh...Cobalamin còn dự vào việc tổng hợp của vài loại amino acids, của acids béo và của ADN. Vitamin B12 hoạt động phối hợp với chất folic acid hay folate (Vitamin B 9) trong các biến dưỡng vừa kể. Vậy Vitamin B12 từ đâu mà có? B12 được tổng hợp bởi một vài loại vi sinh vật sống trong bộ máy tiêu hóa của thú vật. Ở các loài thú nhai lại (ruminant) như trâu, bò, dê, cừu, hươu, nai, vi sinh vật trong dạ cỏ (rumen) tức là bao tử thứ nhất có nhiệm vụ chuyển hóa chất cellulose từ rơm rạ và cỏ ra thành các chất dinh dưỡng, đồng thời cũng tổng hợp ra vitamin B12. Một khi hấp thụ vào máu, B12 được phân phối đi khắp nơi. Ở loài bò, gan là cơ quan chứa nhiều B12 nhất, kế đến là thận. Ở người, phần kết tràng (colon) của ruột già là nơi vi khuẩn tổng hợp B12, nhưng vitamin nầy không được hấp thụ tại đây mà lại bị thải ra ngoài theo phân...Trong môi sinh, một vài loại vi khuẩn trong đất cũng tổng hợp được vitamin B12. Để cho việc tổng hợp B12 có thể xảy ra được cần phải có sự hổ trợ của một bần tố (oligoelement), đó là cobalt. Chất nầy hiện diện trong đất và trong rau cỏ. Thú vật lúc ăn cỏ thường ăn luôn cả đất cát có chứa vitamin B12, nhờ vậy chúng thỏa mãn đủ nhu cầu về vitamin nầy... Đối với con người, chúng ta thường rửa sạch rau quả mỗi khi ăn. B12 hiện diện trong đất cát bám bên ngoài mặt các rau quả nầy, phần lớn đều bị trôi đi hết. Ở một số loài vật như thỏ, chúng thường có thói quen ăn phân trở lại mỗi khi được bài tiết ra ngoài. Sự kiện nầy giúp chúng thỏa mãn đủ nhu cầu về B12...Các nhà khoa học đều xác nhận rằng hầu như tất cả các thức ăn nguồn gốc thực vật đều không có chứa vitamin B12, ngoại trừ một vài loại thực phẩm, như đậu nành ủ lên men Miso (giống như tương) của Nhật Bản và Tempeh của Nam Dương, tảo vi sinh Spurilina, Chlorella và rong biển Nori, Wakame, v.v…Các loại thực phẩm vừa kể đều có chứa phần lớn những chất tương tự như vitamin B12, nhưng lại không có hoạt tính (inactive), khoa học gọi chúng là B12 analogues, cơ thể không thể sử dụng được. Chỉ một số rất ít B12 còn lại mới là B12 thật sự hữu dụng mà thôi! Ngoài ra, các loại men dinh dưỡng như men bia (brewer’s yeast) cũng có chứa B12. Men bia dưới dạng viên hoặc bột được dùng để uống hoặc pha vào nước trái cây nhằm mục đích bồi bổ sức khỏe. Spurilina và men bia được thấy bán trong các tiệm thuốc tây và trong các tiệm bán thực phẩm thiên nhiên...Nói tóm lại, nguồn cung cấp B12 tốt nhất của chúng ta vẫn là từ các sản phẩm gốc động vật. B12 có nhiều nhất trong gan bò (100gr gan chứa 60mcg B12), kế đến là trong thận, thịt bò (100gr có 0.6mcg B12), thịt gà (0.3mcg), thịt heo (0.6mcg), trong cá (4-5mcg), hột gà (0.5mcg), tôm cua sò và trong sữa, fromage (0.25-0.5mcg)...Khi chúng ta dùng những thực phẩm có chứa Vitamin B12, chất hydrochloric acid trong dịch vị tiêu hóa sẽ giúp phóng thích B12 ra ngoài. Đồng thời một chất khác được gọi là yếu tố nội tại (intrinsic factor) tiết ra từ niêm mạc bao tử sẽ kết hợp với vitamin B12. Lúc đi qua phần hồi tràng (ileum) của ruột non, B12 sẽ được các thụ thể chuyên biệt (specific receptors) tại đây hấp thụ vào máu. Ruột già không hấp thụ được B12. Trong cơ thể, phần lớn B12 được dự trữ trong gan. Nhu cầu hằng ngày của chúng ta về B12 rất ư là thấp, khoảng 2.5 - 3mcg (micrograms). Nhu cầu nầy phải cao hơn đối với phụ nữ trong thời gian mang thai hoặc đang cho con bú. Vì thực vật không có B12 nên các người ăn trường chay thuần túy (vegan) cần phải uống thêm các supplement có chứa B12, hoặc dùng những loại sản phẩm hay thức ăn đã được tăng cường (fortified) thêm B12. Nhờ gan có khối dự trữ dồi dào cho nên trong điều kiện ăn uống thiếu B12, thì cũng phải từ 3 năm trở lên mới thấy các triệu chứng của việc thiếu vitamin B12 xuất hiện ra. Thường thì bệnh nhân sẽ cảm thấy bần thần mệt mỏi, kèm theo các dấu hiệu của hiện tượng thiếu máu, dễ bị lạnh, lâu ngày sẽ có các triệu chứng thần kinh, thay đổi tâm tính, trí nhớ kém, trầm cảm, tê tay tê chân, mất thăng bằng lúc đi đứng, v.v…Bệnh thiếu máu do thiếu B12 được gọi là bệnh thiếu máu ác tính (pernicious anemia) rất nguy hiểm. Đôi khi ăn uống đầy đủ B12 nhưng vẫn bị thiếu máu như thường, trường hợp nầy xảy ra khi B12 không được hấp thụ ở ruột non vì thiếu sự trợ giúp của hydrochloric acid hoặc thiếu chất nội tại của bao tử. Ngoài ra, rượu, thuốc lá, vài loại thuốc ngừa thai và các thuốc làm giảm độ chua (antacid) của bao tử cũng có thể làm giảm phần nào sự hấp thụ của B12. Hiện nay Vitamin B12 là đề tài tranh luận chính yếu giữa phe ăn chay và phe ăn mặn!.
VITAMIN D: Giúp cơ thể hấp thụ Calcium từ thực phẩm...Tia cực tím của ánh sáng mặt trời cũng là nguồn cung cấp vitamin D cho chúng ta bằng cách chuyển hóa chất 7-dehydrocholesterol ở dưới da ra thành vitamin D. Tại các quốc gia Tây phương một số thức ăn thức uống có thể được nhà sản xuất cho tăng cường thêm vitamin D chẳng hạn như sữa bò, sữa đậu nành, margarine hoặc các loại thực phẩm cho trẻ em. Vitamin D có nhiều trong lòng đỏ hột gà, trong dầu cá, trong cá biển có nhiều mỡ như cá salmon, mackerel, cá mòi sardin, trong tôm tép, trong gan, v.v…Vitamin D rất cần cho các cháu bé, cho phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú cũng như cho các bác lớn tuổi.
CALCIUM: Rất cần cho xương và răng...Sữa bò là nguồn cấp calcium tốt nhất. Không ít nước trái cây, sữa đậu nành và sữa bò bán ở thị trường đã được tăng cường thêm Calcium và vitamin D. Các thực phẩm có nhiều Calcium là: bông cải xanh broccoli, cải pok choi, bông cải trắng (cauliflower), cải bắp (cabbage), đu đủ, carrot, hạt hoa hướng dương (sunflower), hạt dẻ Brazil (Brazil nuts), hạt hạnh nhân, sung khô, mọng lúa mì, cacao, rong biển (seaweed), tàu hũ (có calcium sulfate), mật đường (molass), các loại đậu, hạt mè còn nguyên vỏ...Nên biết rằng trà, rượu, café và các loại thực phẩm có chứa chất oxalate (thí dụ rau mồng tơi) cũng có thể chứa chất phytate (có trong cám và cereal thô) đều có thể làm giảm việc hấp thụ Calcium!
ĂN CHAY KHÔNG THỂ THIẾU ĐẬU NÀNH
Đậu nành là thực phẩm nồng cốt trong một chế độ ăn chay. Từ đậu nành người ta làm ra vô số món ăn chay, như các loại tàu hũ (tofu), tàu hũ ki (dried bean curd), tương miso, các loại tương ngọt, tương mặn, chao, nước tương và xì dầu. Đậu nành chứa một tỷ lệ chất đạm cao nhất (trên 30%) trong nhóm đậu và cũng cao hơn các loại ngũ cốc (8%-15% đạm). Đậu nành chứa ít chất béo bão hòa, là loại chất béo xấu. Ngược lại tỷ lệ chất béo không bão hòa (chất béo tốt) của nó lại rất cao, đặc biệt là loại không bão hòa đa thể (polyunsaturated). Chất nầy có thể giúp làm giảm cholesterol trong máu. Đậu nành có chứa alpha linolenic còn được gọi là oméga-3. Các nhà dinh dưỡng đều nói rằng omega 3 rất tốt để ngừa các bệnh về tim mạch, để làm giảm áp huyết và để củng cố hệ miễn dịch! Oméga-3 có nhiều trong các loại cá biển vùng nước lạnh như cá salmon và cá mackerel, v.v…Đậu nành không có cholesterol, vì chất nầy chỉ thấy hiện diện trong các thực phẩm gốc động vật mà thôi. Đậu nành cũng không có chứa đường lactose (lactose free), vì vậy sữa đậu nành rất thích hợp cho những người nào bị bất dung nạp với lactose (lactose intolerance) mỗi khi uống sữa bò. Đậu nành có chứa hầu hết các amino acids thiết yếu, có nhiều chất khoáng, chất xơ và vitamins (nhưng không có B12). Nhờ những tính chất nầy nên người ta thường dùng tàu hũ để thay thế thịt trong chế độ ăn chay...100gr đậu nành rang cho 36.5gr protein, đậu nành nấu chín cho 16.6gr, miso 11.8gr, tàu hũ cứng 15.8gr, sữa đậu nành 2.8gr. Đối với người VN mình, tàu hũ có thể được chế biến ra thành rất nhiều món ăn cũng ngon lắm. Nào là kho, chiên, xào, hấp hoặc nấu canh. Còn món tàu hũ trắng và mềm nữa, chế nước đường thắng với tí gừng, dùng để ăn chơi cũng hấp dẫn dữ lắm. Đây là chưa kể đến tài nấu nướng của các bà chị khéo tay, có thể biến tàu hũ và mì căn ra thành vô số «món mặn» ăn cũng bắt cơm dữ lắm. Dân Tây Mỹ thì họ xem tofu như một loại thức ăn lành (healthy food), tốt cho sức khỏe, tuy biết vậy nhưng tofu cũng chưa phải là một món ăn hấp dẫn đối với họ. Theo người viết thì Tofu bán ở các siêu thị Tây ăn không mấy ngon và cũng không mấy thích hợp với «gu» của người mình. Tàu hũ mua ở chợ Á Đông ăn vẫn thích hơn. Nói đến tàu hũ thì cũng phải kể luôn món sữa đậu nành (soymilk). Đây là một loại thức uống rất bổ dưỡng. Tại các chợ Tây cũng như chợ Tàu đều có bán rất nhiều loại sữa đậu nành. Phần lớn sữa nầy đều được cho tăng cường thêm vitamins A, D, B12, riboflavin (B2), kẽm Zn, phosphorus và calcium, v.v… Cũng có nhiều loại sữa được pha thêm nước trái cây, vanilla hoặc lá dứa. Theo nhận xét riêng của người viết, thì các loại sữa đậu nành bán ngoài chợ đều quá ngọt, vì vậy không mấy thích hợp cho những ai phải kiêng cữ đường. Tốt nhất chúng ta nên xuống phố Tàu mua một cái máy, cuối tuần chiụ khó nhín chút ít thì giờ xay làm 4-5 lít sữa đậu nành theo gu của mình, để dành uống trong tuần, vừa bổ, vừa hạp vệ sinh mà cũng lại rẻ nữa duy chỉ hơi mất công một chút thôi...Ngoài các chất dinh dưỡng và chất đạm ra, đậu nành còn chứa những chất isoflavones thuộc nhóm phytoestrogens. Đây là những hormones thiên nhiên tương tợ như oestradiol là hormone sinh dục của phụ nữ. Ăn tàu hũ và uống sữa đậu nành thường xuyên rất tốt cho các bà trong thời kỳ mãn kinh (menopause). Chất phytoestrogens sẽ bù đấp lại phần nào sự suy giảm oestradiol trong thời gian nầy, đồng thời nó làm nhẹ đi các triệu chứng bất lợi như các cơn bốc hỏa (flushing), hồi hộp khó chịu, niêm mạc âm hộ bị khô, tâm tính thay đổi bất thường hay xì nẹt quạu quọ bất tử, đổ mồ hôi ban đêm, và ngăn ngừa chứng loãng xương! Có tài liệu còn nói ăn đậu nành có thể giúp giảm nguy cơ xuất hiện cancer vú. Đậu nành cũng có chứa chất sterol có khả năng kéo cholesterol xấu LDL trong máu xuống và giúp ngừa được các bệnh về tim mạch.
Tuy từ lâu đậu nành đã được hầu như tất cả các nhà dinh dưỡng trên khắp thế giới ca ngợi hết lời nhưng gần Internet có đăng bài Tragedy and Hype của hai tác giả Sally Fallon và Mary G Inig viết trong báo Nexux Úc châu. Trong bài báo nầy đậu nành bị kết án là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Không biết họ làm chuyện nầy với dụng ý gi? Họ đã cảnh giác người tiêu thụ đừng nên đừng dùng đậu nành vì chất Isoflavone của đậu nành thuộc nhóm hormone nữ nên có thể gây hại tuyến giáp trạng (glande thyroide), giảm số lượng tinh trùng gây nên tình trạng vô sinh ở nam giới. Isoflavone còn ngăn trở tác dụng của hormone testosterone khiến các cháu trai trở thành pêđê hết « Soy is making kids gays ». Sữa đậu nành Soy Formula dùng cho trẻ em Hoa Kỳ được ví như những viên thuốc ngừa thai đối với các cháu bé (birth control pills for babies) vì có chứa hormone nhóm estrogen, đậu nành làm teo não, gây bệnh Alzheimer’s, và làm tăng nguy cơ cancer vú ở phụ nữ nữa. Ghê quá! Nguồn tin quái ác nầy rất khó kiểm chứng và cũng không có kèm theo một dẫn chứng khoa học nào đáng tin cậy cả!! Cũng không có một nhà khoa học quốc tế hay một tạp chí khoa học đứng đắng nào đề cập đến vấn đề trên. Tuy vậy, mặc dầu là tin dỏm từ đầu tới cuối nhưng nó cũng đã gây hoang mang trong dư luận không ít!
MISO, TƯƠNG, CHAO, NƯỚC TƯƠNG, XÌ DẦU
Các loại nước chấm dùng để ăn chay thường được làm từ đậu nành...Tương, chao, nước tương, xì dầu là những món rất phổ thông đối với người VN. Tương miso, gốc Nhật Bản, cũng thấy có bán tại các chợ Á đông. Có nhiều loại miso, như miso làm từ gạo (rice miso), từ đậu nành ủ cho lên men (soymiso) hoặc từ lúa mạch barley. Miso có thứ thì lỏng sền sệt, có thứ đặt hơn. Miso có nhiều màu như trắng, vàng và nâu đỏ. Miso trắng là loại ngọt, các thứ khác là loại miso mặn. Soymiso có chứa vitamin B12, nhưng tỷ lệ có được cũng tùy thuộc cách biến chế…Theo phương thức cổ truyền, đậu nành được ủ cho lên men trong những thùng cây tuyết tùng (cedar) trong vòng cả 1-2 năm nên thường cho một tỷ lệ B12 rất cao...Miso sản xuất theo lối công nghiệp, thời gian ủ rất ngắn nên được gọi là quick miso. Lẽ dĩ nhiên miso công nghiệp phẩm chất và tỷ lệ B12 không thể sánh bằng loại miso sản xuất theo lối cổ truyền được! Miso thường được dùng để nêm vào soupe gồm có tàu hũ, rong biển và nấm shiitake, v.v… theo kiểu Nhật Bản. Nói về tương thì Trung Hoa dẫn đầu về món nầy. Có rất nhiều loại tương được chế biến từ đậu nành. Tại Bắc Mỹ, không ai mà không biết hiệu tương ngọt Hoisin sauce bán ở các chợ Á đông. Người mình cũng không kém họ. Chúng ta cũng có rất nhiều loại tương quốc hồn quốc túy, chẳng hạn như tương bần và tương Cự Đà. Bên cạnh tương, thì cũng phải nói đến chao, cũng từ đậu nành mà ra. Ngày nay, tương, chao, nước tương và xì dầu đã trở thành những món chấm rất thông dụng cho cả ăn chay cũng như cho cả ăn mặn. Ngày xưa, lúc quê hương còn khó khăn, tương chao là những món chấm rất phổ thông và rất bình dân trong những bữa cơm hằng ngày của nhiều gia đình.
Thời đó, vào những ngày mùng một và ngày rầm mỗi tháng, người viết thỉnh thoảng thấy ở chợ Vườn Chuối, Saigon có bán một loại chao đặc biệt gọi là chao chùa. Chao nầy có màu trắng, hơi sền sệt, và có mùi thum thủm không khác gì mùi hột gà ung hay blue cheese, nhưng ăn vào thì lại rất bùi và rất béo. Mua vài trái dưa leo và một bó rau lang về luộc chấm với chao cũng xong được một bữa cơm…Nước tương (soy sauce) được sản xuất qua phương pháp thủy phân (hydrolysis) đạm đậu nành. Năm 1999, cơ quan Joint Food Safety and Standards Group của Anh Quốc đã cảnh giác mọi người về sự hiện diện của một chất độc trong các loại nước tương (soy sauce) và dầu hào (oyster sauce) nhập cảng từ Á châu. Đó là chất 3-monochloropropane-1-2 (3-MCPD). Đây là một nhiễm hóa chất trong nhóm Chloropropanolols thấy trong các loại đạm thực vật được thủy phân bằng acid (acid hydrolysed vegetal protein). Chất 3-MCPD có thể gây cancer nếu ăn thật nhiều và ăn thường xuyên. Tại Canada, Cơ quan kiểm tra thực phẩm (CFIA) vẫn thường xuyên theo dõi và kiểm tra nồng độ chất 3-MCPD của tất cả mặt hàng loại nầy nhập cảng từ Á châu. Tương chao có bổ dưỡng gì không? Theo tài liệu của Ds Trần việt Hưng và Bs Trần Quan Tuấn Anh trong bài “từ B12 và vấn đề ăn chay”, thì 100gr soymiso có chứa 0.21mcg B12, tương bần 0.11mcg, tương ngọt 0.09mcg, chao trắng 0.02 - 0.15mcg...Có một điểm cần nên nhớ là miso, tương, chao, nước tương và xì dầu đều rất mặn vì có chứa rất nhiều muối sodium, ăn nhiều, ăn thường xuyên sẽ có hại cho tim thận, và có thể làm tăng áp suất động mạch. Vậy hãy cẩn thận!
NẾP SỐNG CỦA NGƯỜI ĂN CHAY CÓ ẢNH HƯỞNG GÌ?
Nhìn chung thì người ăn chay thường có sức khỏe khả quan hơn người ăn mặn. Tại sao vậy? Các nhà khoa học nghĩ rằng các người ăn chay đa số là những người có ý thức rất cao về dinh dưỡng và sức khỏe. Họ thường có một nếp sống ngăn nắp, đều độ, ít rượu chè, hút sách, nghiện ngập. Họ cũng thường là những người năng vận động, tập thể dục đều đặng và thường xuyên. Chính nhờ những điều kiện nầy cộng với việc ăn chay đã giúp cho họ có được một sức khỏe tốt. Tuy nhiên cũng có một số nhà khoa học khác nói rằng các người ăn chay ít bị bệnh hoạn không phải là tại nhờ họ không ăn thịt, nhưng chính là nhờ họ ăn rất nhiều rau đậu và trái cây tươi. Các loại thực phẩm nầy rất tốt vì có chứa nhiều chất chống oxyt hóa và các hoạt chất (bioactive) có khả năng làm giảm nguy cơ xuất hiện của một vài loại ung thư.
GIỚI HẠN CỦA VIỆC ĂN CHAY
Ăn chay không có gì nguy hiểm cho sức khỏe nếu ăn đúng cách, biết phối hợp nhiều loại thức ăn với nhau. Vấn đề nầy thay đổi tùy theo tuổi tác, tùy theo nếp sinh hoạt cũng như tùy theo kiểu ăn chay của mỗi người. Các cháu bé nhỏ tuổi, các chị đang mang thai, các lực sĩ cũng như những ai có tình trạng sức khỏe và nhu cầu đặc biệt thì không nên ăn chay. Các ông thường hay nói, ăn chay thường xuyên dám làm mình yếu đi bị “hết xí quách” bất tử, bài vỡ học lâu thuộc lắm? Ăn chay mà vẫn dùng trứng và bơ sữa fromage thì không có gì trở ngại cả. Ăn chay có thể là một vấn đề sức khỏe đối với người ăn chay trường theo kiểu khắc khe thuần túy (vegan), nghĩa là không đụng tới bất kỳ món gì xuất phát từ loài vật, “vụ đó” dám tịch ngòi luôn nghe không các bạn già “liền ông”, nếu không tin bạn thử ăn chay trường ròng rã liên tục trong vòng một hai tháng thì biết liền. Nhu cầu về Calcium và B12 khó được thỏa mãn đầy đủ, ngoại trừ họ cần phải uống thêm các supplements có chứa 2 chất nầy...Nói tóm lại, nên ăn các loại hạt và ngũ cốc thô vì chúng còn giữ nhiều chất dinh dưỡng và vitamins. Tuy vậy, hạt thô lại chứa khá nhiều chất phytic acid có thể làm giảm đi phần nào sự hấp thụ calcium. Một vấn đề nan giải khác là liệu thực phẩm sử dụng có chứa đầy đủ số amino acids thiết yếu hay không? Phần lớn thức ăn gốc thực vật lại không có đầy đủ các amino acids, hoặc có nhưng ở mức quá thấp. Sự thiếu của một hay của nhiều amino acids thiết yếu sẽ ngăn trở phần nào việc hấp thụ của những amino acids khác một cách trọn vẹn và ảnh hưởng không ít đến việc tổng hợp chất đạm. Đây là lý do tại sao có rất nhiều người ăn chay bị rơi vào tình trạng thiếu protein. Một chế độ ăn chay đầy đủ và quân bình cần phải có sự đa dạng về các chất như các loại ngũ cốc thô, các loại đậu, các loại hạt có dầu (đậu phọng, mè, hạt hoa hướng dương, hạt lanh (linseed), các loại hạt dẻ (nuts), sữa và các sản phẩm làm từ sữa, trứng gà, rau cải, trái cây tươi và khô, các loại men dinh dưỡng, mọng lúa mì, v.v…Nhân tiện tác giả cũng xin nêu ra đây với sự dè dặt là có tin đồn một số nhà sản xuất thức ăn chay đóng hộp ở Đài Bắc và ở một số nơi khác, vì nhằm mục đích kinh doanh ham lời đã cố tình cho trộn thêm nước thịt hoặc thịt vào các mặt hàng chay giả mặn. Hèn gì ăn rất ngon không khác gì đồ mặn cũng dễ hiểu mà thôi...Các lon đồ chai bán ở chợ thường có chứa cả khối dầu và chất béo, và điểm nầy là sự thật 100%. Cẩn thận với các lon chay giả mặn bán ở các chợ Á Đông tại hải ngoại như thịt gà chay, thịt vịt chay, lẩu dê chay, cá chay…Một nhận xét khác là cơm chay ở chùa ngày chúa nhật cũng thường có quá nhiều dầu. Mỡ dầu nó cũng không có tha một ai hết dù ăn ngoài chợ hay ăn trong chùa!
KẾT LUẬN
Thực tế cho thấy trên thế giới khuynh hướng ăn chay càng ngày càng bành trướng thêm lên mãi. Các biến cố dồn dập, như bệnh bò điên, bệnh dịch cúm gà, thịt nhiễm vi khuẩn E.coli, salmonella, thịt chứa kháng sinh, hormone, hóa chất lạ, thịt bị chiếu xạ (irradiated), cá tôm nhiễm chất độc dioxin, BPC…đã làm mọi người e dè lo ngại mỗi khi ăn uống. Riêng tại Canada, thống kê cho biết có lối 4% dân số đã chọn giải pháp ăn chay. Trên thế giới cũng có rất nhiều danh nhân và tài tử nổi tiếng đã theo chế độ ăn chay. Ăn chay đã trở thành một cái mode. Giới kỹ nghệ thực phẩm cũng phải thích nghi theo thị hiếu mới của dân chúng. Phần lớn các siêu thị đều có gian hàng bán đồ chay. Sản phẩm chay thường có mang 2 chữ Vege hoặc Veggie...Nào là veggie dogs (hot dogs làm bằng tofu), veggie burger, veggie lasagna, veggie chicken, Pizza végétarien…Mc Donald’s đã cho ra lò món Mc Vege, nhưng cũng chưa mấy phổ biến cho lắm...Nhà hàng Subway có Sous marin végétarien...Cty Tartex chi nhánh của cty Nestlé tung ra thị trường loại pâte Raviolis chay. Tất cả đều được làm từ nguyên liệu đậu nành...Chợ Á Đông cũng có bán nhiều loại đồ hộp để ăn chay. Tại một vài thành phố lớn ở Canada, cũng có thấy xuất hiện vài tiệm cơm chay của người VN. Nhà hàng chuyên bán đồ ăn chay của Canada thì có rất nhiều. Tại Toronto và Montreal thì có nhà hàng Commensal. Đối với người VN chúng ta, các nhà hàng nầy có thể rất sang trọng, nhưng đắt quá, lại nữa cũng không hợp với “gu” của mình...Ngon nhất vẫn là bữa cơm chay thịnh soạn do bà xã nấu ở nhà gồm có canh chua chay, bì cuốn chay, đồ kho, mắm chưng chay hoặc mắm ruột chay, ăn với cơm nóng vừa mới chín tới. Ôi! thật là ngon hết biết...Gần đây, tờ Thời báo ở Canada có đăng bài phóng sự về phong trào ăn chay tại Saigon. Mấy món chay được kê ra đều rất cầu kỳ và thật hấp dẫn với những cái tên rất lạ tai, tưởng chừng đâu như toàn là món mặn. Có một sự thật cần phải nói ra đây là hiện giờ trận giặc giữa phe ăn chay và phe ăn mặn đang diễn ra một cách âm thầm nhưng rất quyết liệt. Hai phía thường hay chê bai, chỉ trích và đã kích lẫn nhau. Bên nào cũng cho mình là đúng, là chân lý mà thôi! Để bảo vệ quyền lợi của mình, giới kỹ nghệ thực phẩm không ngớt tổ chức những cuộc vận động hành lang, và tung ra vô số quảng cáo đề cao sự bổ dưỡng vô song của thịt. Phe ăn chay cũng không thua gì, họ phản công lại và đe dọa mọi người về hiểm họa bệnh tật và cancer do thịt có thể gây ra…Họ còn tố cáo phe ăn mặn đã phóng đại các ảnh hưởng tiêu cực, như ăn chay sẽ bị mất sức khỏe, ăn chay sẽ bị thiếu vitamin B12, dễ bị thiếu máu, dễ bị hết xí quách, v.v…. Họ diện dẫn, là nếu ăn chay mà bị bệnh hoạn, thiếu máu thì hằng triệu dân ở phía Bắc Ấn Độ, vì hoàn cảnh hay vì tín ngưỡng là những người đã theo chế độ ăn rau quả ngũ cốc từ cả hằng ngàn năm nay rồi mà có ai bị thiếu máu đâu, họ vẫn còn sống phây phây ra đó? Các nhà khoa học thì lại nghĩ khác, và đưa ra giả thuyết như vấn đề vệ sinh yếu kém, phóng uế bừa bãi ngoài đồng (trong phân có vitamin B12), sử dụng phân người trong việc trồng tỉa, sâu bọ côn trùng thải phân trên rau cải, nước nôi thiếu thốn nên rửa rau quả không sạch sẽ, và nhờ vậy mà vitamin B12 bám phía ngoài rau quả nầy sẽ không bị trôi mất đi. Tất cả những điều vừa kể đã giúp người Ấn độ thỏa mãn đủ nhu cầu về B12. Một số những người nầy, sau đó may mắn được cho đi định cư ở Anh quốc. Tại nơi đây họ vẫn tiếp duy trì chế độ ăn chay trường, nhưng chỉ sau 3-4 năm thì không ít người trong nhóm đã mắc phải tình trạng thiếu máu ác tính. Tại sao vậy? Câu trả lời của một số nhà khoa học là tại Anh quốc cuộc sống quá vệ sinh, không có ai phóng uế ngoài đồng cỏ, sâu bọ côn trùng hầu như đã bị các loại thuốc trừ sâu diệt hết, vả lại nước nôi dồi dào nên họ đã rửa trôi đi hết vitamin B12 trên rau cải. Họ bị thiếu B12 vì ăn chay kiểu khắc khe mà không uống thêm supplement B12, hoặc không dùng những loại thực phẩm đã được tăng cường thêm vitamins...Còn một sự kiện khác cũng khó giải thích được và thường được thiên hạ nói đến, đó là việc các nhà sư Trung Hoa và Nhật Bản ăn chay trường quanh năm suốt tháng mà họ vẫn luôn luôn khỏe mạnh, thế là sao? Có lẽ là nhờ Thiền, nhờ Zen, nhờ tập Taichi, nhờ hít thở, nhờ tập Khí công hay nhờ họ đã áp dụng một môn phép dưỡng sinh nào đó chăng? Người ta tự hỏi phải chăng tuy là ăn chay tịnh nhưng trong thức ăn thức uống của các sư đều có chứa đầy đủ các dưỡng chất cần thiết rồi hay có một yếu tố nào đó mà khoa học chưa hề biết đến? Các nhà bác học cần phải nghiên cứu thêm và cũng cần nên đồng nhất hơn nữa các phương cách đo lường và thí nghiệm.
Để chấm dứt, tác giả xin mượn ý kiến của một nhà bác học lừng danh thế giới đã nói về vấn đề ăn chay như sau: “Không gì ích lợi cho sức khỏe con người, và cũng đồng thời làm tăng cơ may sinh tồn trên quả địa cầu bằng việc tiến hóa đến một chế độ ăn chay” (Nothing will benefit human health and increase chances for survival of life on Earth as much as evolution to a vegetarian diet. Albert Einstein)./.
Tài liệu tham khảo:
- How healthy is a vegetarian diet. NSW Health, Australia.
- Vous songez à devenir végétarien. Université d’Ottawa.
- Perspectives on vegetarianism.National Institute of Nutrition, Canada.
- Từ vitamin B12 và vấn đề ăn chay. Ds Trần v Hùng & Bs Trần Q. Tuấn Anh.
- Nước tương và dầu hào, Bs Thú y Nguyển thượng Chánh,Thời Báo Canada 24-05-2002.
- Vegetarians are more intelligent, The Daily Mail, Dec 15, 2006
- Tragedy and Hype, Sally Fallon & Mary G. Inig
- What about soy? John Robbins, The Food Revolution
Montreal, Dec 22, 2006
NGUYỄN THƯỢNG CHÁNH
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=6&nid=99927